Tín ngưỡng dân dã cơ bản của người Việt

Tín ngưỡng dân dã cơ bản của người Việt người Pháp xưa kia, như học giả L.Cadière, khi bắt tay vào nghiên cứu tư duy, tâm tính bản địa của ta, họ từng có cảm giác bất lực. Cái thế giới tâm linh ấy nó tầng tầng lớp lớp, đan cài vào nhau như một miền “rừng rậm nhiệt đới” đại ngàn, nhìn đâu cũng thấy thần linh, chẳng rõ đâu là nút thắt khởi đầu, đâu là lối ra. Nhưng người trong nghề chúng tôi, bao năm lặn lội qua từng dấu tích cổng đền, từng thớ đất lòng sông Hồng, mới thấu cái mạch ngầm ấy vốn có dòng chảy rất rõ ràng. Nó đi từ thuở hồng hoang hái lượm, qua rìa đá Sơn Vi, rồi theo chân người mình lội xuống đồng bằng lúa nước.


Từ tiền sử Sơn Vi đến thuở sơ khai của tục thờ Mẫu tối thượng

Nói về cội nguồn tín ngưỡng dân dã cơ bản của người Việt, phải ngược dòng về thời tiền sử, thuở người Lạc Việt gốc Môn Kh’mer còn quần cư ở vùng thượng nguồn sông Hồng, dựa hoàn toàn vào săn bắt và hái lượm. Lúc ấy, cái ăn cái mặc trong tay người mẹ là chính, việc săn bắn của đàn ông chỉ là phụ trợ. Vai trò người mẹ lớn lao vô cùng. Từ lòng tôn kính ấy, người xưa gửi gắm ước vọng của cải dồi dào vào quyền năng của một bà mẹ “vũ trụ”, mà đỉnh cao là bà mẹ rừng tối thượng.

Cái hay của thớ gỗ thời gian là nó lưu giữ những vết tích không thể chối cãi. Đất Đông Cuông, sát bờ sông Hồng, nơi mặt đất còn đầy mảnh tước của nền văn hóa Sơn Vi vạn năm trước, chính là nơi trú ngụ của Mẫu Đông Cuông tối linh.

Bà mẹ rừng ấy, theo đà phát triển tất yếu, đã được tôn lên thành bà mẹ thiêng liêng có quyền năng vô bờ bến, rồi thành bà mẹ thế gian sinh ra muôn vật, và cuối cùng đứng đầu bách thần dưới tư cách một vị tối thượng thần. Tục thờ Mẫu của người mình đã bắt rễ sâu xa từ thuở nguyên thủy như thế, bền bỉ đi dọc chiều dài lịch sử cho đến tận ngày hôm nay.


Đôi bạn đời âm dương và bản thân vị Đức Thánh Cả Tản Viên Sơn

Theo dòng chảy sông Hồng, người Việt mình dịch chuyển dần xuống vùng Phú Thọ ngày nay. Chạm tay vào những thớ đất bằng phẳng, rộng rãi, nền kinh tế nông nghiệp lúa nước thời đồ đá mới bắt đầu thành hình. Cũng từ đây, người xưa nhìn trời, nhìn đất mà nhận thức sâu sắc hơn về các cặp phạm trù đối đãi, những biến thể đầu tiên của âm dương: Trời Cha và Đất Mẹ.

In tâm thức dân dã, Trời Cha chứa đựng khối sinh lực vô biên, và cứ mỗi khi những giọt mưa – được ví như tinh dịch của Trời – đổ vào lòng Đất Mẹ, thì muôn loài mới sinh sôi nảy nở. Rồi người ta nhìn lên những ngọn núi cao, đỉnh ngập vào mây trời, chân bám sâu vào đất cát, và coi đó là chiếc gạch nối chuyển tải nguồn sinh khí ấy xuống thế gian. Tiến xuống đồng bằng, những ngọn núi độc lập càng làm người ta chú ý. Ý thức ấy hội tụ trọn vẹn vào núi Tản Viên (Ba Vì), ngọn núi thiêng được coi là khởi nguồn của mọi hạnh phúc nông nghiệp. Thần núi Tản Viên nghiễm nhiên trở thành Đức Thánh Cả.

Ý nghĩa của con số 3 và sự phân thân của Tam Sơn

Nói thì dễ nhưng khi đi điền dã thực tế qua nhiều vùng đất, chúng tôi mới nhận ra cha ông mình xưa kia trọng con số 3 đến nhường nào. Chưa bàn đến chuyện Dịch học sâu xa, theo quan niệm bình dân, số 3 là số lẻ. Mà lẻ thì động, động thì chuyển, chuyển thì biến đổi, và biến đổi chính là phát triển. Với hình thế núi Tản Viên có ba ngọn lớn, ngọn núi này mang tính chất “Tam Sơn” thiêng liêng. Từ một ngọn núi chung, thần được phân thân thành ba vị cai quản, ngự trị, rồi được nhân cách hóa, lịch sử hóa thành ba vị tướng thời Hùng Vương: Tản Viên, Cao Sơn và Quý Minh theo tinh thần “sinh vi danh tướng, tử vi thần”.


Cuộc chạm trán với văn hóa phương Nam và sự khai phá châu thổ Bắc Bộ

Khi bước chân tuần du của các vua Hùng vượt qua ngã ba Hạc để tiến xuống miền xuôi, người Việt đối mặt với hai bước ngoặt lớn, cả về tư tưởng lẫn sức sản xuất.

Sự dung hội tư tưởng và sự ra đời của đạo Tứ Pháp

Về mặt tư tưởng, người mình tiếp cận mạnh mẽ với văn hóa biển, văn hóa Ấn Độ (Bà La Môn, Phật giáo) và cả văn hóa phương Bắc (Nho giáo, Đạo giáo). Sự hội nhập này giúp tín ngưỡng bản địa bớt tản mạn, tự phát. Một bà mẹ đất và nước được hình thành, mà hậu thân được tích tụ thành Man Nương.

Đất cổ Loa là một minh chứng cho sự dung hội ấy: có nét văn hóa Tày Thái, có bóng dáng rùa thần mang dáng dấp tối thượng thần Visnou, có con gà trống Nam Á hải đảo, và cả các tiên nữ phảng phất tích truyện Trung Hoa cùng yếu tố Đạo giáo dân dã. Từ đó, hệ thống Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) ra đời, gắn liền với mưa và nước, khẳng định truyền thống sử dụng nước tại chỗ của nông nghiệp Việt.

Hiện tượng từ một mẹ hóa thân thành nhiều mẹ chịu ảnh hưởng từ tư duy phân tích, tổng hợp phương Bắc. Các bà đều được Phật hóa, nhưng tượng thờ xưa nay đều cởi trần và tô màu mận chín (màu gụ thẫm) – màu nước chứa sinh lực của tối thượng thần Siva, bộc lộ sự tự nhiên như trời đất và ước vọng mùa màng bội thu.

Đồ sắt và sức mạnh thần thánh của Phù Đổng Thiên Vương

Bước ngoặt thứ hai là cuộc vật lộn để khai phá châu thổ Bắc Bộ mênh mông, rậm rạp và đầy thú dữ. Công cụ đá, đồng men theo sườn núi Kiện Khê, Đông Triều không đủ sức bạt ngàn. Phải đến khi đồ sắt xuất hiện, sức mạnh ấy mới thực sự bùng nổ, hằn sâu vào tư tưởng người dân như một phép màu thần thánh. Sức mạnh đồ sắt ấy được nhân cách hóa thành Phù Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng).

Truyền thuyết về Người anh hùng văn hóa này có ba chi tiết cực kỳ đắt giá:

  • Vết chân người khổng lồ: Mẹ ông dẫm vào vết chân khổng lồ mà mang thai. Người khổng lồ có thể là bóng dáng thần linh tầng trên, hoặc là thế hệ đầu tiên ngờ nghệch bị trời phạt trong trận đại hồng thủy, chỉ để lại những ao, chuôm (vốn là hố chống hạn của người xưa). Việc dẫm chân biểu hiện ý thức dựng kinh nghiệm quá khứ để xây dựng tương lai.
  • Mối liên hệ thần linh: Thánh Gióng là bạn thân của người khổng lồ Lý Ông Trọng (đền Chèm) và mang nhiều vết tích của một vị thần núi.
  • Cây gậy sắt bị gãy: Chi tiết này chứng tỏ thuở ấy nghề rèn sắt mới ở dạng “thổi sống”, sắt nhiều tạp chất do nhiệt độ chỉ tới khoảng 900°C nên đồ sắt chưa bền. Có nhà nghiên cứu còn ngờ chữ “Dóng” gắn với chữ “dông” chỉ việc cầu mưa.

Suy cho cùng, Thánh Gióng là sự hội thân của thần núi, thần nông nghiệp, thần lò rèn, trở thành vị tối thượng thần trong hệ Tứ Bất Tử.


Đạo Mẫu Tứ Phủ – Chiếc ô tâm linh bảo tồn bản sắc dân tộc

Khi châu thổ Bắc Bộ được khai phá xong, một đạo Mẫu với hệ thống cơ bản được hình thành trọn vẹn thành đạo Tứ Phủ với bốn vị tối thượng thần cai quản bốn miền vũ trụ. Đây là sản phẩm thuần túy của tư duy nông nghiệp cầu nước, mang quyền năng tối thượng và phủ tràn không gian tâm linh người Việt.

Đạo Mẫu mạnh đến mức trở thành đối trọng bảo tồn bản sắc dân tộc; mọi tôn giáo ngoại lai nếu không có bóng dáng bà mẹ thánh thần thì khó lòng được người Việt tiếp nhận. Phật giáo có Bồ Tát Quan Thế Âm hóa thân nữ (Bà Chúa Ba chùa Hương, đôi khi đồng nhất với Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Địa); Công giáo có bà Maria cũng có hiện tượng tương tự.

Hệ thống bốn vị Thánh Mẫu trong điện thần Tứ Phủ
Thánh Mẫu Miền Cai Quản Cốt Lõi Tâm Linh & Ý Nghĩa Bản Địa
Thượng Thiên Thánh Mẫu Bầu trời Đại diện cho nguồn sinh lực vô biên, cốt lõi sự sống, mong cầu mưa thuận gió hòa.
Thượng Ngàn Thánh Mẫu Rừng núi Bà mẹ thế gian gắn từ thời nguyên thủy, có mặt ở các làng xóm cổ (rừng Báng, rừng Sặt, rừng Liên Bạt…). Rừng nuôi sống con người khi đói kém, là nơi kiếm củi, nơi tình tự và chôn cất người chết. Bà nâng đỡ các kiếp đời đã qua để họ tái sinh thành Cô, Cậu.
Mẫu Thoải (Thủy) Nước (biển, sông, suối, hồ) Đảm bảo nguồn nước nông nghiệp, sau này kiêm thêm chức năng thương mại, chài lưới giống Quan Âm Nam Hải.
Thánh Mẫu Địa Đất bằng, phì nhiêu Mong cầu đất đai cày cấy ngày một mở rộng, hợp tư duy phát triển đất đai của nông dân.

Cấu trúc điện thần đạo Mẫu: Một hệ thống mở đầy linh hoạt

Điện thần đạo Mẫu sinh ra từ nông nghiệp mang yếu tố âm (đất, nước) nên các ngài mang dạng nữ, thương xót cưu mang con người. Theo dòng lịch sử, đây là một thần điện mở, dung nạp thêm nhiều nhân thần, thần ngoại nhập và anh hùng dân tộc:

  • Ngũ vị Tôn ông: Gồm 4 nhiên thần của 4 miền vũ trụ và vị thứ 5 là Quan Lớn Tuần Tranh (con trai Trần Hưng Đạo) kiêm chi đôi nước. Hệ thống này hình thành khi xã hội đã ổn định trật tự, đứng đầu bách thần sau hệ sáng tạo.
  • Tứ phủ Chầu Bà (Chúa Bà): Chịu ảnh hưởng Nho giáo nên đa phần không có tên cụ thể (nam tôn nữ ti), nhưng có công dạy nghề hoặc đánh giặc (như Chầu Mười ở Mỏ Ba đánh giặc Minh).
  • Tứ phủ Ông Hoàng: Ông Hoàng Nhất gắn với kiếp tu tầng trên nên người dân “kính nhi viễn chi”. Các vị khác là nhiên thần, nhân thần có công giữ nước như ông Hoàng Hai (quan Lớn Triệu Tường) mở nước phương Nam; ông Hoàng Ba (Hoàng Lảnh) gắn với nguồn nước; ông Hoàng Sáu (Trần Lựu) và ông Hoàng Mười (Nguyễn Xí) là tướng chống Minh; ông Hoàng Bảy là Nùng Chí Cao.
  • Hệ Tứ phủ Thánh Cô, Thánh Cậu: Thần linh cấp thấp, vốn là người thế gian làm việc thiện, khi khuất núi được Mẫu Thượng Ngàn nâng đỡ hóa kiếp. Qua thân phận trẻ con mà thành Cô, Cậu, làm gương đạo đức cho người đời. Thờ Cô, Cậu là tín ngưỡng chung của nhân loại.

Sự biến đổi của điện thần theo dòng lịch sử

Buổi đầu, đạo Mẫu có tứ phủ nhưng chỉ có tam tòa gắn với hai mạch: Sống (thờ Trời, Nước, Đất cầu mùa màng) và Chết (Mẫu Thượng Ngàn ở rừng núi thờ riêng). Khi đô thị và thương mại phát triển, người phi nông nghiệp đã thay thế Mẫu Địa trong tam tòa bằng Mẫu Thượng Ngàn (hiện thân của sự giàu có), khiến Mẫu Địa mờ nhạt dần hoặc chỉ được thờ ở vài di tích cụ thể.

Văn hóa Trung Hoa tràn sang, vị Ngọc Hoàng được cấy vào điện Mẫu ở chính điện phía dưới các Thánh Mẫu, kèm Nam Tào, Bắc Đẩu. Khi ăn sâu vào tâm thức, Ngọc Hoàng hóa thân thành “Tam vị Đức Vua Cha”: Vua Cha Ngọc Hoàng (trời), Vua Cha Bát Hải (nước), Vua Cha Diêm Vương (đất), hình thành đạo Tam Phủ riêng biệt (như đền Tam Phủ ở chùa Thầy, Hà Tây).

Tính chất hội tụ còn đưa cả Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Chúa rừng Rơi vào thủ điện. Tượng Trần Hưng Đạo cùng Yết Kiêu, Dã Tượng hoặc hai cô hầu cận Quỳnh Hoa, Quế Hoa (con Đức Thánh) cũng thường xuất hiện trang trọng trong khuôn viên.


Thế đối đãi tâm linh vẹn toàn: “Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ”

Đến thế kỷ XV – XVI, xã hội Việt chuyển lề mạnh mẽ nhờ thương mại. Trong đạo Phật, Quan Âm Nam Hải chiếm thế thượng phong; còn ở đạo Mẫu, vai trò của Thánh Mẫu Liễu Hạnh nổi lên như sự hội tụ của các Thánh Mẫu khởi nguyên, đưa văn hóa Việt lan tỏa khắp vùng miền.

Cùng thời này, Chử Đồng Tử (Chử Đạo Tổ) ở ven sông Hồng – vốn là thần vị cổ đại gắn với nghề cá và văn hóa biển – được thương thuyền thời Mạc đưa lối, chuyển hóa thành vị thần gắn với thương mại, đứng vào hàng Tứ Bất Tử.

Bên cạnh hệ thống Mẫu, người Việt vẫn thờ thần linh địa phương theo kiểu “trống làng nào làng ấy đánh, Thánh làng nào làng ấy thờ”. Nhưng đối ứng trọn vẹn với Mẫu Liễu chính là Đức Vua Cha Trần Hưng Đạo. Nhờ sự tổng hòa của Shaman giáo, phù thủy, Phật, Nho, Lão (Nội Đạo), Đức Thánh Trần đã vượt tầm một anh hùng dân tộc để bước vào thế giới siêu linh cai quản tâm thức bình dân.

Từ đó, thế đối đãi âm dương cân bằng hoàn hảo của vũ trụ được thiết lập:

“Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”

Thánh Trần mất ngày 20 tháng 8 âm lịch. Ngài là nam (Dương), hiển thánh vào tháng 8 (Âm). Mẫu Liễu là nữ (Âm), từ giã cõi đời vào tháng 3 (Dương). Sự hòa hợp không gian và thời gian ấy chính là cái gốc của sự thiêng hóa. Về sau này, các yếu tố Trung Hoa và Phật giáo tiếp tục được Việt hóa, đưa thêm Phật Mẫu Dao Trì, Tây Vương Mẫu, Đông Phương Sóc hay các hệ thống thủy thần sông biển, linh vật nông nghiệp vào làm phong phú thêm cho mạch nguồn tín ngưỡng dân dã của người mình.