Thành Phần Hóa Học Của Nhựa Sơn trong Sơn Mài

Người trong nghề chúng tôi trước giờ cứ quen tay quen mắt mà làm, nhưng để hiểu sâu xa vì sao giọt nhựa cây thô mộc kia lại có những đặc tính biến chuyển kỳ diệu đến vậy, thì phải lật giở đến cấu trúc bên trong. Chính cái sự đặc biệt, biến hóa khôn lường của chất nhựa này đã khiến bao nhà hóa học phải tốn công lưu tâm nghiên cứu.

Sự khác biệt trong thành phần hóa học của nhựa sơn Nhật Bản và Việt Nam

Qua các tài liệu phân tích, người ta thấy cây sơn thuộc giống Rhus vernicifera trồng ở xứ Nhật Bản được chia tách rõ ràng thành hai phần riêng biệt:

  • Một phần đem hòa tan được trong rượu ê-ti-lích (alcool éthylique), giới khoa học đặt tên cho nó là a-xít uy-ruy-chi-cơ (acide-urushique). Cái tên này bắt nguồn từ chữ “Urushi”, nghĩa là nhựa sơn theo tiếng Nhật. Bản chất của anh chàng a-xít uy-ruy-chi-cơ này chính là tác nhân gây ra chứng dị ứng lở sơn mà cánh thợ chúng tôi đứa nào mới vào nghề cũng một vài lần nếm trải.
  • Phần còn lại thì trơ ra, không tài nào hòa tan được với nước hay rượu. Đoạn này hình như chứa đựng một chất men gây ô-xy hóa, đóng vai trò chủ chốt biến chất nhựa sơn từ sắc trắng sữa ban đầu thành một thứ véc-ni khô rắn đanh, chuyển màu đen kịt.

Cái hay là khi quay về với giống sơn Rhus succedanea trên đất ta, kết quả phân tích thành phần hóa học của nhựa sơn lại có những điểm khác biệt rất riêng:

  • Đầu tiên là một hợp chất phê-nôn cực kỳ nhạy với phản ứng ô-xi hóa, gọi là lác-côn (laccool). Xét về tính chất thì anh lác-côn này cũng tương tự như chất a-xít uy-ruy-chi-cơ của sơn Nhật.
  • Kế đến là một chất men gây ô-xy hóa mang tên lác-ca-dơ (laccase). Khi người thợ hòa sơn cho tan vào dòng rượu ê-ti-lích, chất lác-ca-dơ này sẽ tự động lắng xuống đáy, kéo theo cả phần chất gôm vốn có sẵn trong nhựa sơn, còn riêng phần lác-côn thì tan biến hoàn toàn vào trong rượu.

Bí quyết ủ sơn mài và cơ chế hoạt động của các chất men tự nhiên

Nói thì dễ nhưng khi đặt nhát cọ lên mặt đồ vật, người thợ phải tính toán rất kỹ cơ chế khô của sơn. Nhờ sự tác động của ô-xy ngoài trời và phản ứng ô-xy hóa từ phần lác-côn, phần lác-ca-dơ mới làm cho chất nhựa sơn khô đen lại được. Khi sơn được quét tỏa đều lên mặt đồ vật, một quá trình biến đổi diễn ra: lác-côn bắt đầu để cho phần nước chứa đựng bên trong (tuy lượng nước này rất ít) bốc hơi đi, tác động trực tiếp vào dung dịch lác-ca-dơ.

Cái ngặt nghèo ở chỗ, phần nước ít ỏi này bắt buộc phải bốc hơi thật chậm thì mới đủ thời gian cần thiết để tác động vào lác-ca-dơ. Muốn kìm hãm, gây ra sự chậm trễ đó, người thợ chúng tôi phải dùng chiếu hoặc tải ẩm ướt che kín bọc quanh hàng đã sơn. Việc này nhằm tạo ra một môi trường ẩm ướt, hãm không cho phần nước trong lác-côn bốc hơi quá nhanh.

Ngược lại hoàn toàn, khi gặp tiết trời hanh khô, chất men này không có đủ thời gian để hoạt động. Nước sơn quét lên sản phẩm nếu không được ủ kỹ lưỡng ở nơi ẩm ướt thì coi như hỏng, sơn sẽ không thể nào khô kỹ được.

Nhiệt độ và độ ẩm tiêu chuẩn giúp sơn mau khô

Qua kinh nghiệm tích lũy đời này sang đời khác, chúng tôi nhận thấy khi trời nồm, độ ẩm đạt từ 75° đến 90° đi kèm nhiệt độ rơi vào khoảng 20° đến 25° là tiết trời phù hợp nhất làm cho sơn mau khô. Thời gian lý tưởng để ủ sơn là từ 4 đến 5 giờ đồng hồ. Sơn được khô đúng thời hạn sẽ đanh mặt lại, đến khi người thợ tiến hành mài đánh bóng sẽ lên được màu rất đẹp. Thợ nào non tay để ủ lâu quá mới khô thì dẫu có khô rồi mặt sơn vẫn cứ dấp dính, khi mài thì dai nhách mà đánh bóng thì màu thường bị tịt, mất đi cái độ trong sâu.

Thực nghiệm tách lớp nhựa sơn bằng rượu của người thợ

Bản thân tôi qua những bước đầu tự mình thể nghiệm cũng đã chứng thực được điều này. Tôi đem chế biến sơn sống loại giọi nhất thành sơn chín (thứ sơn cánh gián nguyên chất không pha nhựa). Tiếp đó, tôi hòa tan phần sơn đó vào rượu cất 90° chứa trong bình thủy tinh. Lấy đũa thủy tinh quấy đều lên cho tan, rồi đậy nắp thật kín lại. Qua hơn một tháng trời, hỗn hợp rượu và sơn tự động phân tách ra làm hai phần rõ rệt:

a) Phần loãng nằm phía trên: Có màu nâu nhạt nhìn tựa như nước vối. Tôi khẽ lấy một ít bôi thử lên tấm kính, soi qua ánh đèn thì thấy trong vắt, ánh lên sắc hung nâu. Đem trộn nó với các loại bột màu vẽ thông thường (bột gu-oát) thì thấy màu sắc chịu thấu, không còn bị sơn làm chết màu như cách làm trước đây nữa. Đối chiếu với tài liệu, rõ ràng chất lác-côn đã hòa tan hoàn toàn vào rượu 90°. Vì đã bị tách rời khỏi lác-ca-dơ, nên hỗn hợp rượu và lác-côn này gần như trơ ra, không thể tự khô được. Muốn cho hỗn hợp này sánh lại, tôi phải đem đun cách thủy để rượu bốc hơi bay đi hết, lúc đó chất lác-côn mới sánh đặc kẹo lại.

b) Phần đặc sánh nặng hơn: Lắng chây ở phía dưới, đông đặc lại như thạch. Khi xắn ra từng miếng rồi lấy ngón tay bóp thử, thấy cấu trúc của nó bở và nhão ra như bã đậu. Phần này chắc chắn là lác-ca-dơ, một chất rất mau khô khi được phơi ra ngoài khí trời.

Định hướng ứng dụng khoa học trong việc khai thác nhựa sơn quý

Cái công việc nghiên cứu phân tách thủ công này của cánh thợ chúng tôi thực sự cần có sự chung tay, giúp đỡ từ các ngành khoa học, hóa học. Có như vậy mới đi sâu nghiên cứu, nắm vững một cách tường tận thành phần cấu tạo của hai chất lác-côn và lác-ca-dơ. Trên cơ sở khoa học vững chãi, việc nghiên cứu trên chắc chắn sẽ mở ra nhiều hứa hẹn lớn trong việc khai thác, sử dụng và chế biến chất nhựa quý này; không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực nghệ thuật mỹ nghệ mà còn vươn xa sang cả những lĩnh vực công nghệ khác nữa.