Tết Nguyên Đán: Chiêm Nghiệm Giá Trị Văn Hóa Nghìn Năm Từ Góc Nhìn Người Giữ Lửa

Đối tượng suy tôn: Ông bà, tổ tiên.
Địa điểm: Phạm vi cả nước.
Thời gian: Ngày mồng 1 đến ngày mồng 3 tháng giêng.
Đặc điểm: – Lễ hội dân tộc lớn nhất.
– Tính toàn dân cao.

Người trong nghề chúng tôi, quanh năm gắn bó với những nét đẹp cổ truyền, mỗi khi thấy cơn gió chớm lạnh của những ngày cuối đông rục rịch chuyển dịch, lòng lại bâng khuâng nghĩ về Tết Cả. Tết Nguyên Đán vốn là lễ hội dân tộc lớn nhất, lâu đời nhất, mang tính toàn dân cao và có phạm vi phổ biến rộng nhất của người Việt ta. Trải dài từ ải Nam Quan cho đến mũi Cà Mau, ra tận vùng hải đảo xa xôi, không một nơi nào là không tưng bừng, nhộn nhịp trong những ngày này. Ngược dòng thời gian về những thế kỷ xa xưa thời Lý, Trần, Lê, ông cha ta đã cử hành lễ Tết hàng năm một cách vô cùng trang trọng, gìn giữ như một mạch ngầm văn hóa xuyên suốt bao thế hệ.

Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Của Từ “Tết Nguyên Đán” Trong Hệ Thống Lễ Hội Việt Nam

Nói về hệ thống lễ hội Việt Nam, Tết Nguyên Đán chính là khâu đầu tiên và đóng vai trò quan trọng nhất. Cái hay của ngày Tết Cả là cả phần lễ và phần hội đều cực kỳ phong phú, trọn vẹn từ nội dung đến hình thức, chứa đựng giá trị nhân văn sâu sắc. Khi ông cha ta định ra ngày Tết Cả vào đúng thời điểm kết thúc năm cũ, mở đầu năm mới theo âm lịch, xem đây là ngày hội lớn của một chu kỳ vận hành vũ trụ, điều đó đã phản ánh rõ nét tinh thần hòa điệu giữa con người với thiên nhiên, đất trời và vạn vật. Chiết tự chữ nghĩa một chút để thấy cái tinh tế của người xưa: chữ “Nguyên” có nghĩa là bắt đầu, còn chữ “Đán” nghĩa là buổi ban mai. Tết Nguyên Đán chính là khởi điểm của một năm mới tinh khôi. Đồng thời, đây cũng là dịp thiêng liêng để gia đình, họ hàng, làng xóm, những người thân thiết xa gần cùng sum họp, đoàn tụ, thăm hỏi, cầu chúc nhau và tưởng nhớ, tri ân ông bà, tổ tiên.

Mối Quan Hệ Hòa Điệu Giữa Con Người Và Thiên Nhiên Trong Ngày Tết Cả

Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, từ “Tết” thực chất do chữ “Tiết” (thời tiết) mà ra, thuận theo sự vận hành của vũ trụ qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Sự chu chuyển này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với một xã hội mà nền kinh tế vẫn dựa vào nông nghiệp làm gốc. Bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian và quan niệm “ơn trời mưa nắng phải thì”, người nông dân xem Tết là dịp để tưởng nhớ các vị thần linh định đoạt sự được hay mất của mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt Trời… Cái tình của người làm nông mộc mạc lắm, họ không quên ơn cả những loài vật, cây cối đã giúp đỡ, nuôi sống mình suốt năm qua, từ hạt lúa củ khoai đến trâu bò, gia súc, gia cầm đều được trân trọng trong những ngày này.

Ý Nghĩa Nhân Sinh Sâu Sắc: Tết Của Gia Đình, Tết Của Tình Thân

Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã đúc kết rằng, ý nghĩa nhân sinh lớn nhất của Tết Nguyên Đán trước hết chính là Tết của gia đình, Tết của mọi nhà. Người Việt mình có một tập tục rất đẹp, cứ mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu, dẫu cách trở hàng ngàn ki-lô-mét, ai ai cũng đau đáu mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết từ mồng 1 đến mồng 3 tháng giêng. Được thắp nén hương khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, nhìn lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ cũ, giếng nước, mảnh sân nhà nơi gót chân bé dại từng tung tăng, người ta như được sống lại với bao kỷ niệm đầy ắp yêu thương. Hai tiếng “về quê ăn Tết” từ lâu đã vượt lên trên một khái niệm thông thường, đó là tiếng gọi từ cội nguồn, từ mảnh đất chôn nhau cắt rốn.

Theo quan niệm truyền thống, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn viên. Từ mái nhà nhỏ, mối quan hệ họ hàng, làng xóm được mở rộng và ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: từ tình gia đình, tình thầy trò, đạo nghĩa giữa người bệnh với thầy thuốc, cho đến sự tri ân với ông mai bà mối từng tác thành đôi lứa, hay những bè bạn cố tri… Tết cũng là dịp để người ta kiểm điểm lại mọi hoạt động của một năm đã qua, khép lại chuyện cũ và hân hoan chào đón năm mới với những hy vọng tốt lành cho cả cá nhân lẫn cộng đồng.

Không Khí Chuẩn Bị Khẩn Trương Từ Công Sở Đến Từng Nếp Nhà

Vì Tết Cả là lễ hội truyền thống mang tính toàn dân, nên vào những ngày cuối năm, hầu như mọi hoạt động xã hội đều hướng về Tết. Từ thương nghiệp, giao thông vận tải cho đến văn hóa, an ninh công cộng và các ngành dịch vụ đều có kế hoạch chu toàn để phục vụ ngày hội đặc biệt này. Các công sở, xí nghiệp, công trường, trường học tùy theo chức năng đều chủ động giải quyết các nhu cầu nội bộ, nhất là việc bố trí nghỉ phép về quê ăn Tết cho cán bộ, nhân viên, học sinh, sinh viên.

Nói thì dễ nhưng khi trực tiếp hòa vào không khí chuẩn bị Tết của từng gia đình mới thấy hết sự nhộn nhịp, khẩn trương. Bước vào bất cứ nhà nào thời điểm này cũng cảm nhận được cái tất bật từ việc mua sắm, may mặc, trang trí nhà cửa đến chuẩn bị bánh trái, cỗ bàn, đón người thân ở xa. Với những gia đình lớn, họ hàng đông, dâu rể con cháu đề huề thì công việc chuẩn bị lại càng phức tạp, chu đáo hơn.

Theo tập tục, không khí Tết bắt đầu rõ nét nhất là từ ngày 23 tháng chạp – ngày đưa tiễn Ông Táo về trời tâu việc trần gian. Ngày xưa dưới thời phong kiến, từ triều đình đến quan chức các hàng tỉnh, huyện đều nghỉ việc sau lễ “Phất thức” (lễ lau rửa ấn triện). Trong buổi lễ này ở triều đình luôn có sự hiện diện của nhà vua và các quan đại thần trong phẩm phục uy nghiêm, cho thấy ngày Tết được coi trọng đến nhường nào. Ấn triện sau đó được cất vào tủ, niêm phong cẩn thận; công sở đóng cửa, mọi pháp đình ngừng phán xét, con nợ không bị sai áp, tội nhẹ không bị trừng phạt, tội nặng thì giam giữ chờ qua ngày mồng 7 tháng giêng (lễ khai hạ) mới giải quyết. Như thế, Tết Cả xưa kéo dài trọn vẹn từ 23 tháng chạp đến mồng 7 tháng giêng.

Ngày nay, trong nếp sống hiện đại, việc nghỉ Tết và vui Tết được quy định khoa học, hợp lý hơn nhằm phù hợp với tác phong công nghiệp, văn minh, tiết kiệm thời gian nhưng vẫn bảo lưu và kế thừa trọn vẹn những nét đẹp truyền thống của cha ông.

Những Phong Tục Ngày Tết Giữ Trọn Bản Sắc Văn Hóa Việt

Trang hoàng nhà cửa và bàn thờ tổ tiên

Xuất phát từ tâm niệm đón Chúa Xuân, ai ai cũng tự giác lau chùi, trang hoàng nhà cửa thật sạch đẹp. Đặc biệt, bàn thờ ông bà, tổ tiên là nơi được chăm chút nhất. Đồ đồng, đồ thau được đem đi đánh bóng lại sáng loáng; đèn nhang, lọ hoa sắm sửa sẵn sàng. Bên cạnh tranh Tết dân gian xưa kia, người mình nay còn treo thêm lịch tờ in tranh phong cảnh, người đẹp, cùng những câu đối Tết mang nội dung chúc phúc, mong cầu an vui, tiến bộ.

Tục chơi hoa, chơi quả ngày Tết

Chợ hoa Tết là một nét đặc sản, thường chỉ họp vào vài ba ngày cuối năm và kết thúc vào chiều 30 Tết tại các thành phố, thị trấn. Ở miền Bắc, hoa đào là chủ thể, còn ở miền Nam lại chuộng sắc mai vàng. Đi đôi với hoa là quất kiểng (miền Nam gọi là cây tắc hoặc cây hạnh), những cây quất trĩu quả vàng mọng đặt ở phòng khách chính là biểu tượng cho sự trù phú, sung mãn và may mắn.

Trên bàn thờ tổ tiên không thể thiếu mâm ngũ quả. Ở miền Bắc, mâm quả thường gồm nải chuối xanh, quả bưởi (hoặc phật thủ), cam, quýt, hồng, quất. Ở miền Nam, người dân thường bày thêm mãng cầu xiêm, dừa xiêm, đu đủ, xoài xanh, thơm, sung. Thực tế số lượng quả có thể nhiều hơn năm, nhưng điều người ta chú trọng nhất là sự phối hợp màu sắc hài hòa để tôn lên vẻ trang nghiêm, đẹp đẽ của không gian thờ tự.

Nhu cầu mặc đẹp và phong tục tắm nước thảo mộc

Thành ngữ có câu “Chẳng phong lưu cũng ba ngày Tết”, thế nên dù quanh năm chân lấm tay bùn, ai cũng cố gắng may sắm quần áo, giày dép mới, đặc biệt là trẻ con. Ngày xưa, khi chưa có hương liệu hóa học, người phụ nữ Việt thường dùng nước thơm thảo mộc để tắm gội ngày Tết, như rửa mặt bằng nước mùi, gội đầu bằng nước hương bài, vừa làm sạch cơ thể, vừa giữ cho tâm hồn thanh khiết, nhẹ nhàng.

Sự thay đổi của tục đốt pháo

Trong ký ức của nhiều người, tục đốt pháo từng là một phần nổi bật. Tiếng pháo nổ giòn giã dịp giao thừa vốn mang ý nghĩa xua tan tà khí, tiễn biệt cái cũ để đón mừng năm mới với niềm lạc quan, hưng phấn. Tuy nhiên, việc đốt pháo những năm sau đó đã gây ra nhiều hệ lụy lớn như lãng phí tiền của, ô nhiễm môi trường và tai nạn thương tích. Vì thế, thể theo nguyện vọng của nhân dân, Chính phủ đã ban hành lệnh cấm đốt pháo từ Tết năm 1995. Thay vào đó, việc đốt pháo hoa vừa văn minh, lịch sự, lại đảm bảo an toàn, yên vui cho mọi nhà.

Văn hóa đi chợ Tết và lễ cúng tất niên

Chợ Tết luôn là phiên chợ đông vui, phong phú nhất năm với đủ loại thực phẩm, bánh mứt, rượu chè, quần áo, đồ chơi. Các bà nội trợ thường đi chợ vào các ngày 28, 29 Tết để tích trữ đồ ăn vì chợ sẽ nghỉ từ mồng 1 đến mồng 3. Đi chợ Tết còn là một cái thú vui chơi của nam thanh nữ tú và trẻ nhỏ, đi để ngắm người, thưởng cảnh xuân.

Đến trưa hoặc chiều ngày 30 Tết, lễ cúng tất niên được cử hành vô cùng trang trọng. Khi mọi việc chuẩn bị đã hòan tất, người thân xa gần tề tựu đông đủ, người chủ gia đình sẽ thắp nhang đọc lời khấn mời ông bà, tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu. Đây là cuộc họp mặt thiêng liêng giữa người sống và người đã khuất. Sau tuần hương, cả nhà quây quần bên mâm cỗ tất niên ấm áp, hàn huyên vui vẻ rồi chuẩn bị đón khoảnh khắc giao thừa.

Thời Khắc Giao Thừa Thiêng Liêng Và Các Tập Tục Đầu Năm Mới

Giao thừa là thời điểm đất trời giao cảm, khoảnh khắc thiêng liêng mở ra năm mới. Khi giờ phút ấy đến, mọi người cùng nâng cốc chúc nhau sức khỏe, thành đạt và mở những hộp bánh, chén trà đầu xuân tỏa khói thơm ngào ngạt. Kể từ đây, Tết Nguyên Đán chính thức bắt đầu.

Mặc dù năm mới tính từ giao thừa nhưng mọi hoạt động đời sống thực sự bắt đầu vào sáng mồng một. Vì ngày Nguyên Đán đánh dấu bước khởi đầu hệ trọng liên quan đến vận hạn, hạnh phúc của cả năm, nên từ sáng sớm, người ta chỉ trao nhau những lời hay ý đẹp. Mọi chuyện buồn phiền, vay mượn tiền nông chưa thanh toán đều được gác lại, đợi qua ngày hạ nêu mới nhắc đến.

Chính vì mong cầu may mắn, tục xông nhà (xông đất) rất được coi trọng. Các cụ ngày xưa thường chọn người hiền lành, đức độ, tốt nết đến nhà đầu tiên vào sáng mồng một để mang lại điều cát tường cho gia đình. Con cháu trong nhà cũng được dặn không tự ý đi chúc Tết khi nhà mình chưa có người đến xông đất.

Song song đó là tục mừng tuổi đầu năm. Sáng mồng một, ông bà, cha mẹ sẽ mừng tuổi cho con cháu bằng những đồng tiền mới đặt trong phong bao, mang ý nghĩa tượng trưng cho lời chúc phúc. Khách đến chơi nhà và chủ nhà đều mừng tuổi trẻ con để thể hiện nét đẹp truyền thống quý già, mến trẻ.

Nhiều người vẫn giữ tục xuất hành sáng mồng một, chọn giờ tốt và hướng đi tốt để khởi đầu thuận lợi. Đối với giới tri thức, các ông đồ, vị khoa bảng xưa, tục khai bút đầu năm là việc hệ trọng, và ngày nay nhiều nhà văn, nhà thơ vẫn duy trì nét đẹp này.

Nếp Sống “Mồng Một Nhà Cha, Mồng Hai Nhà Mẹ, Mồng Ba Nhà Thầy”

Lịch trình thăm viếng ngày Tết của người Việt đã thành nếp sống văn hóa qua câu khẩu quyết:
“Mồng một thì ở nhà cha, mồng hai nhà mẹ, mồng ba nhà thầy.”
Nhà cha là bên nội, nhà mẹ là bên ngoại, nhà thầy là thầy dạy chữ, dạy nghề, dạy võ hay thầy thuốc. Câu nói như một lời nhắc nhở sâu sắc về đạo lý sống trọn nghĩa vẹn tình, biết ơn nguồn cội và những vị ân nhân của cuộc đời mình. Sau nghĩa tình sâu nặng đó mới đến việc vui chơi, thăm viếng bạn bè, hàng xóm láng giềng.

Khi khách đến nhà, gia chủ luôn đón tiếp ân cần, nồng hậu, mời trầu thuốc, trà nước, bánh mứt hay dùng cỗ. Ngày xưa ở nông thôn, đình làng là trung tâm của các hội hè, trò chơi dân gian như đánh cờ, đấu vật, chơi đu… Không khí nhộn nhịp ấy đọng lại trong thành ngữ “vui như Tết”.

Cuộc vui xuân cứ thế diễn tiến cho đến chiều mồng ba, các gia đình làm mâm cơm cúng tiễn đưa ông bà, khép lại những ngày Tết chính thức. Từ sáng mồng tư, công sở, chợ búa trở lại hoạt động bình thường, nhưng dư âm của Tết Cả vẫn kéo dài âm ỉ cho đến ngày hạ nêu (mồng bảy tháng giêng) – thời điểm mà ngày xưa các cấp chính quyền chọn giờ lành để làm lễ khai ấn, bắt đầu một năm làm việc mới.

Tóm lại, có thể xem Tết Nguyên Đán là một cuộc sơ kết từng chặng ngắn của đời người và cộng đồng theo chu kỳ năm âm lịch. Tết là dịp để cầu mong sự hưng thịnh, nơi các tập tục, đạo đức cổ truyền mang giá trị nhân văn và thẩm mỹ cao của dân tộc được gìn giữ, phát huy. Tục đón xuân, vui xuân chính là phần tài sản văn hóa – tinh thần vô giá mà thế hệ chúng ta hôm nay đang trân trọng kế thừa.