Sự du nhập của Phật giáo và lối bài trí Phật diện

Sự du nhập của Phật giáo và lối bài trí Phật diện người làm nghề dựng nhà, đục tượng chúng tôi mỗi lần cầm bức đục hay dựng một nếp xà đều nhìn vào mạch đất, hướng gió để hiểu cái gốc của nếp nhà. Đất nước mình nằm ngay góc Đông Nam châu Á, vừa dựa lưng vào lục địa rộng lớn lại vừa mở mắt trông ra biển khơi mênh mông. Cái vị trí ấy chính là nơi dừng chân quen thuộc của những con thuyền viễn xứ trên chặng đường dài hải hành giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.

Hơn nữa, dải đất này lại tiếp giáp với hai khu vực có nền văn hóa cổ đại rực rỡ, vốn là quê hương bản địa của nhiều hệ tư tưởng lớn trên thế giới. Người trong nghề chúng tôi ngẫm thấy, chính cái thế đất ấy đã tạo nên một điều đặc biệt: dù nước Việt không tự sản sinh ra một tôn giáo lớn nào, nhưng từ thuở rất sớm, đây đã là nơi gặp gỡ, hội tụ của nhiều tôn giáo khác nhau như Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo và Đạo giáo. Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử, tùy từng lúc, từng nơi mà tôn giáo này mạnh hơn tôn giáo kia, hoặc ngay trong cùng một tôn giáo thì giáo phái này lại chiếm ưu thế hơn giáo phái khác. Cái hay của mảnh đất này là các tôn giáo chẳng những không tìm cách tiêu diệt nhau, mà còn âm thầm thâm nhập, hòa quyện vào nhau, tạo nên một hình thế pha tạp với màu sắc vô cùng phong phú cho từng đức tin.


Dòng chảy lịch sử Phật giáo qua hai con đường truyền dịch

Từ cái nôi phát sinh ban đầu là Ấn Độ, Phật giáo cứ thế dần dần phát triển rộng sang các nước láng giềng rồi chiếm trọn một địa vực rộng lớn, trùm lên những quốc gia như Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Xrilanca, Inđônêxia… Giới nghiên cứu xưa nay đều thống nhất rằng đạo Phật được truyền bá ra thế giới theo hai con đường huyết mạch: một là từ vùng Bắc Ấn theo đường bộ băng qua Trung Á sang Trung Hoa; hai là đường biển khởi đầu từ các cảng ở Nam Ấn xuống Xrilanca. Rồi từ chính hai cái trục lớn Trung Hoa và Xrilanca này, đạo Phật mới tiếp tục truyền lan sang các quốc gia khác xung quanh.

Nói thì dễ nhưng khi đặt nhát đục đầu tiên vào lịch sử mới thấy cái thế khó của người đi tìm cội nguồn. Nước Việt ta nằm ngay giữa hai đường truyền đạo lớn ấy. Vậy thì đầu tiên, Phật giáo vào đất Việt bằng con đường nào?

Theo nhiều nguồn tài liệu khác nhau, đạo Phật vào đất Trung Hoa từ thời Đông Hán, thế nhưng không phải ngay nửa sau thế kỷ I nó đã xây dựng được tổ chức giáo hội trên toàn cõi đế quốc Hán rộng lớn. Còn ở Việt Nam ta, nếu lật lại cuốn “Thiền uyển Tập Anh” – một bộ sách quý được viết từ thời nhà Trần – thì Phật giáo đã có mặt ở đất Việt trước khi nó kịp bén rễ ở miền Hoa Nam Trung Quốc. Lịch sử còn ghi nhận có rất nhiều nhà sư từ Ấn Độ và Trung Hoa đã lặn lội tới tận vùng đất Bắc Kỳ xưa để truyền đạo.

Cái hay của thớ gỗ này là nó lưu giữ cả những câu chuyện từ ngàn năm trước. Con đường từ Thiên Trúc sang đất Việt mà ngài sư Đàm Thiên được nhắc đến trong “Thiền uyển Tập Anh”, chắc chắn phải là đường biển. Theo các tài liệu nghiên cứu như của Xin-Vanh Lê-Vi, bấy giờ những con thuyền buồm lớn của các thương nhân vượt biển khơi thường đặt dưới sự phù hộ, che chở của vị Phật Đi-Pan-ka-ra (mà dân gian hay gọi là Nhiên Đăng Như Lai – một đức Phật thuộc về thời quá khứ). Trên những chuyến thuyền buôn vượt đại dương ấy thường chở theo các vị sư, và các vị này kiêm luôn cả thầy thuốc chữa bệnh, giáo sĩ truyền đạo lẫn thầy bùa trừ tà.

Bởi vậy, hoàn toàn có thể tin tưởng rằng ngay từ đầu công nguyên, Phật giáo vào đất Việt đầu tiên là nương theo con đường biển và mang dòng máu ảnh hưởng trực tiếp từ Phật giáo Ấn Độ. Phải đợi tới thời nhà Tùy, nhà Đường, Phật giáo Trung Hoa mới bắt đầu ồ ạt tràn vào đất Việt và dần trở thành cái cơ sở cốt lõi cho Phật giáo nước nhà sau thời kỳ Bắc thuộc. Như thế, tính từ cuối thế kỷ VI, Phật giáo Việt Nam lại chịu thêm một luồng ảnh hưởng mạnh mẽ từ Phật giáo Trung Hoa, song cái gốc rễ, yếu tố của Phật giáo Ấn Độ hẳn là vẫn còn in dấu rất nặng. Trong dòng chảy ấy, nhiều vị sư người Việt đã tự mình lặn lội qua hai quốc gia khổng lồ này cũng như các nước khác ở Đông Nam Á để tu học, học hỏi giáo pháp, khiến cho Phật pháp trên đất Việt bao gồm nhiều màu sắc vô cùng phong phú, đa dạng.

Từ thế kỷ X, khi đất nước giành được độc lập tự chủ, Phật giáo Việt lại càng có đà phát triển mạnh mẽ rồi đạt đến độ cực thịnh vào thời nhà Lý. Mãi tới thế kỷ XIV, tức là vào giai đoạn cuối thời nhà Trần, thì đạo Phật mới bắt đầu có những dấu hiệu suy yếu dần. Trong suốt giai đoạn dài này, tầm ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa ngày càng trở nên mạnh mẽ, dần lấn át đi cái ảnh hưởng nguyên thủy của Phật giáo Ấn Độ.


Sự khác biệt cốt lõi giữa Phật giáo Đại Thừa và Tiểu Thừa

Chính tình hình dịch chuyển lịch sử như trên đã dẫn đến điều kiện để người làm nghề chúng tôi đặt ra một giả thiết: ít nhất là vào buổi ban đầu, trong cách thức thờ phụng Phật tại các ngôi chùa cổ đã có bóng dáng, hơi hướng lối thờ của chùa Tiểu Thừa. Hiện tượng kỹ thuật này được phản ánh khá đậm nét thông qua nền nghệ thuật điêu khắc thời Lý và giai đoạn đầu thời Trần.

Tuy nhiên, nói tới cách thờ theo lối chùa Tiểu Thừa không đồng nghĩa với việc chúng tôi đặt giả thiết rằng yếu tố Tiểu Thừa giữ vai trò chủ đạo trong nền Phật giáo đương thời, và càng không phải là các yếu tố Đại Thừa chưa xuất hiện ở nước ta. Hãy nhìn vào thực tế: chỉ riêng việc ngôi chùa Một Cột thời Lý được gắn liền với sự tích về Quan Âm Bồ Tát cứu độ đã đủ để nói lên tính chất Đại Thừa đậm nét rồi.

Tất nhiên, những người làm thợ mộc, tạc tượng chúng tôi không ngồi đây để bàn sâu về giáo lý nhà Phật. Nhưng ở chừng mực có liên quan trực tiếp đến nghệ thuật tạc tượng Phật giáo ở nước Việt, cũng xin được nhắc lại một cách ngắn gọn đôi khái niệm cơ bản để anh em cùng hiểu rõ cái gốc của pho tượng:

Ranh giới địa lý giữa hai vùng Phật giáo Tiểu Thừa và Phật giáo Đại Thừa nhìn chung là tương đối rõ ràng. Thế nhưng, xét về mặt tông chỉ cốt lõi, cả hai hướng đi này đều nhằm một mục đích tối hậu là giải thoát cho chúng sinh thoát khỏi bể khổ để bước vào cõi Niết bàn thanh tịnh. Sự khác biệt lớn nhất chỉ nằm ở cách thức tu hành, tức là cái con đường để đi vào cõi Niết bàn ấy.

Sau ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập vào cõi thường trụ, các hàng môn đồ đệ tử bắt đầu có những hướng đi khác nhau. Mới đầu, có một phái muốn bảo lưu toàn vẹn tính chất nguyên sơ, mộc mạc ban đầu của Phật giáo, cứ theo đúng những giáo pháp đã có từ thời Phật tại thế mà tu hành. Sau đó vài trăm năm, một phái khác lại nổi lên với tư tưởng muốn phát triển giáo lý nhà Phật một cách linh hoạt, không quá câu chấp vào từng lời dạy cũ, mà mở rộng thêm để khám phá những điều uyên thâm, nhiệm mầu của Phật giáo, nhằm làm cho đạo Phật thích ứng tốt với yêu cầu phát triển của xã hội đương thời.

Phái bảo thủ đi trước được gọi là Tiểu Thừa, mang ý nghĩa là cỗ xe nhỏ chở được ít người. Phái phát triển đi sau được gọi là Đại Thừa, với ngụ ý là cỗ xe lớn rộng rãi có thể chở được nhiều người.

Theo giáo lý Phật giáo, Niết bàn chính là cõi cùng tột, thanh tịnh, yên vui, không sinh không diệt, trường tồn mãi mãi với thời gian, nơi không còn những ham mê giả dối và cũng không còn sự phân biệt giữa kẻ hiền người ngu.


Lối bài trí Phật điện qua hai lăng kính giáo lý

Chính sự khác nhau về con đường tu hành nêu trên đã ảnh hưởng trực tiếp đến nhát đục, bàn tay của người thợ khi bài trí không gian thờ tự.

Những người theo học phái Tiểu Thừa cho rằng, ai tự mình tu hành đắc đạo thì chỉ riêng người ấy được bước vào cõi Niết bàn mà thôi. Bởi vậy, không gian Phật điện của chùa Tiểu Thừa rất đơn giản, chỉ cần thờ độc một mình Đức Phật Thích Ca Mâu Ni – bậc đại giác ngộ đã khai mở cho chúng sinh thấy được con đường giải thoát ra ngoài vòng luân hồi sinh tử.

Trái lại, những người theo phái Đại Thừa lại quan niệm rằng trong cõi vũ trụ bao la có chu Phật và chư Bồ Tát ngự trị ở cả ba thời: quá khứ, hiện tại và tương lai. Người tu theo đường Đại Thừa nếu thành tâm tu tập thì bản thân cũng có thể chứng quả thành Phật, thành Bồ Tát hoặc sẽ được các vị Bồ Tát tiếp dẫn về miền Tây Phương cực lạc.

Do cái tư tưởng rộng mở ấy, không gian Phật điện Đại Thừa được bài trí khá đông đảo, rầm rộ với rất nhiều vị Phật và các vị Bồ Tát khác nhau ngồi chung một điện. Riêng với pho tượng Đức Phật Thích Ca, trên sơ đồ Phật điện Đại Thừa, người thợ chúng tôi thường phải thể hiện sinh động qua từng giai đoạn khác nhau của cuộc đời tu hành của ngài, tính từ khi ngài sinh ra cho tới khi đắc đạo thành bậc tối thượng.