Phong cách tượng phật giáo Việt Nam

Phong cách tượng phật giáo Việt Nam lật lại từng trang sử cũ, người làm nghề đục chạm chúng tôi không khỏi trầm ngâm khi biết rằng, suốt thiên niên kỷ thứ nhất, trên mảnh đất Việt này hiện chưa tìm thấy một pho tượng Phật nào. Đến thời kỳ cuối đời Đường vào thế kỷ VIII và IX, dẫu đạo Phật đã phát triển khá mạnh với nhiều tông phái, nhưng dấu vết về kiến trúc và tượng Phật giáo hầu như cũng tiêu biến, chẳng còn lại chi.

Mãi tới thời tự chủ, vài dấu tích liên quan tới ngôi chùa mới bắt đầu xuất hiện. Và phải đợi đến thời Lý, phong cách tượng Phật giáo mới được xác định một cách rõ ràng. Chắc chắn đương thời triều đình nhà Lý đã cho xây nhiều chùa, tô nhiều tượng, song ngặt nỗi đến nay, những hình tượng nhân cách gắn với Phật giáo chỉ còn sót lại vài hiện vật hiếm hoi trên chất liệu đá và đồ đất nung. Càng về sau, tùy thuộc vào sự hưng thịnh của Phật pháp cũng như sự chi phối của hoàn cảnh lịch sử, xã hội ở mỗi thời mà tượng chùa có nhiều biến đổi khác nhau. Dẫu vậy, cái gốc ý nghĩa Phật đạo trên pho tượng thì trăm năm vẫn thế, ít có sự thay đổi. Người trong nghề chúng tôi xin lấy một pho tượng Phật cụ thể để giãi bày cái hay, cái ngóc ngách của nghề.


1. Bí Ẩn Dáng Ngồi Kiết Già Và Triết Lý Khai Mở Các Luân Xa

Thông thường, các pho tượng Phật đều được tạc trong tư thế ngồi kiết già (Yoga). Có ba cách kiết già toàn phần (padmâsana) mà thợ đục thường thể hiện:

  • Thế ngồi hoa sen (Liên Hoa Tọa): Hai bàn chân được kéo lên chồng trên bắp vế; thân ngồi ngay ngắn, lưng vuông góc với mặt sàn, mắt nhìn xuống trong thế soi rọi nội tâm.
  • Kiết già kiểu hàng ma (Hàng Ma Tọa): Cách ngồi khoanh lộ bàn chân phải trên đùi trái, nhằm tránh sự tác động của ngoại cảnh xấu.
  • Kiết già kiểu kiết tường (Cát Tường Tọa): Cách ngồi khoanh lộ bàn chân trái trên đùi phải, giữ cho tinh thần trong sáng, minh bạch, tốt lành.

Những nhà tu Phật cần ngồi thiền vì nhờ sự cân đối vững chắc, ít mỏi mệt này mà tinh thần được tập trung hơn, khiến đầu óc trở nên sáng suốt, minh mẫn. Người làm nghề khi tạc tượng phải hiểu rằng, dù Phật ngồi theo cách nào đi nữa thì cuối cùng, tùy theo khả năng của người tu hành gom thần lực vào các trung tâm huyệt ra sao để khai mở luân xa tương ứng với những mức độ khác nhau.

Người ta tin rằng đốt xương cùng là một trung khu thần kinh, nơi hội tụ của tinh khí âm dương đầy sinh lực, được tượng trưng bằng một hình tam giác có con hỏa xà (thần xà) tên là Kundalini. Mục đích của tọa thiền là đánh thức con hỏa xà này dậy để theo công quả tu hành mà khai mở phần trí tuệ tương ứng của hành giả qua 7 trung tâm lực:

  • Trung tâm lực thứ nhất (ở đốt xương cùng): Tượng trưng bằng bông sen bốn cánh màu đỏ tên là Muladhara. Huyệt này thông, rắn Kundalini thức tỉnh thì luồng hỏa tam muội sẽ vươn lên các luân xa cao hơn.
  • Trung tâm lực thứ hai (tại bộ phận sinh dục): Tượng trưng bằng bông sen sáu cánh màu đỏ thắm. Khi luân xa Svadischtana khai mở, hành giả thấy được thể phách, thể vía di chuyển dễ dàng.
  • Trung tâm lực thứ ba (tại rốn): Tượng trưng bằng bông sen mười cánh màu tím. Khai mở luân xa Manipura này giúp hành giả biết được quá khứ của mình và người khác.
  • Trung tâm lực thứ tư (tại trái tim): Tượng trưng bằng bông sen mười hai cánh màu hồng vàng. Nơi luân xa Anahata khai mở, tu sĩ đạt được phép Tha Tâm Thông, không cần hành động mà vẫn hiểu tư tưởng chúng sinh.
  • Trung tâm lực thứ năm (tại hõm cổ): Tượng trưng bằng bông sen mười sáu cánh màu xám. Luân xa Vischuda mở ra giúp tu sĩ đạt phép Thiên Nhĩ Thông, nghe xa ngàn dặm, dù là tiếng côn trùng nhỏ nhiệm.
  • Trung tâm lực thứ sáu (hội vào sơn căn giữa hai chân mày): Tượng trưng bằng bông sen hai cánh màu trắng. Khi luân xa Ajna mở, tu sĩ đạt phép Thiên Nhãn Thông, thấy cái tế vi ở xa ngàn dặm, bông sen nở giúp người ta sáng suốt, tự chủ và ảnh hưởng tới nội tâm người khác.
  • Trung tâm lực thứ bảy (hội vào chính đỉnh đầu): Tượng trưng bằng bông sen nghìn cánh màu xanh có ánh vàng bao bọc. Khi luân xa Sahasrâra khai mở, tu sĩ đạt Lậu Tận Thông – tức trí tuệ Phật, thông suốt cùng tận lẽ huyền vi, quá khứ, vị lai và mọi biến chuyển vũ trụ. Bông sen ngàn cánh này đồng nhất với tướng Vô Kiến Đỉnh, hoặc chữ AUM (úm) chứa đầy huyền lực giao tiếp với thần linh.

Trong cách thể hiện tượng của người Việt, hai trung tâm lực được người thợ quan tâm nhất chủ yếu là tướng Vô Kiến Đỉnh (gắn với luân xa Sahasrâra) và trung tâm thứ tư (luân xa Anahata). Đây chính là hai cốt lõi nhằm đề cao trí tuệ và từ tâm – cứu cánh tối hậu của Phật đạo.


2. Phân Tích Đường Nét Tạo Hình Trên Một Pho Tượng Phật Việt

Nói thì dễ nhưng khi đặt nhát đục đầu tiên lên khối gỗ hay phiến đá mới thấy hết cái thần mà cha ông gửi gắm. Có thể phân tích một pho tượng Phật thông thường trong các chùa Việt qua các chi tiết kinh điển sau:

Nhục Khấu và những búi tóc xoắn ốc

Đỉnh đầu tượng thường nổi cao, nhiều khi thành một khối tròn như bát úp gọi là Nhục Kháo (Nhục Kế – Unisa). Tướng này do lòng kính thuận sư trưởng mà mọc lên, là biểu hiện của thông minh linh tuệ. Phía trên nhục kháo thường có một mặt tròn nhỏ, tức tướng “Tùy hình hảo” (tướng tốt phù trợ tướng chính), gọi là “Vô kiến đỉnh tướng”.

Theo thuyết lý nhà Phật, tướng này vốn ở thể phách, mắt thường chẳng thể nhìn thấy, chỉ có thần nhãn hoặc thiên nhãn mới thấu. Nó biểu hiện cái cục quả của Phật, là hiện thân của ánh sáng và trí tuệ viên mãn. Thế nhưng, người Việt mình thờ Phật theo lối thế gian, cần có hình tướng trực quan để noi theo, nên nhiều khi tượng “Vô kiến đỉnh” vẫn được thợ xưa biểu hiện rõ ràng bằng một khối cầu màu vàng sáng đẹp, mắt thường nhìn thấy rõ mồn một như ở chùa Côn Sơn (Hải Hưng) và nhiều nơi khác.

Dưới nhục kháo là đầu tượng lớn nở, tóc kết thành nhiều búi nhỏ xoắn ốc hình tháp nên dân gian hay gọi là “bụt óc”. Đó là hình những chữ thánh như chữ Vạn, chữ Kiết Tường, chữ Đức… hội lại để đề cao trí tuệ, nhằm diệt trừ Vô minh (sự ngu tối vốn là mầm mống của tội ác). Trí tuệ chính là cái khởi đầu của điều thiện.

Diện mặt và các lớp áo Cà Sa

Mặt tượng có tai lớn chảy dài biểu hiện sự cao quý; mũi thẳng đầy đặn là tướng của quý nhân quân tử. Đôi mắt khép hờ nhìn xuống chóp mũi thể hiện sự tập trung tư tưởng để soi rọi nội tâm, diệt trừ tà dục, bảo trì chân tâm vi diệu. Miệng mím nhẹ, thoáng nụ cười kín đáo mang tư cách cảm thông và cứu độ chúng sinh. Tùy theo từng thời kỳ mà khuôn mặt tượng sẽ có thêm những nét bản địa khác nhau.

Thông thường cổ tượng cao vừa phải, thân mặc áo cà sa – thứ áo của nhà tu hành nhằm thoát khỏi ràng buộc lòng dục. Thứ áo này có rất nhiều tên gọi ý nghĩa như: Thanh Y, Tĩnh Y, Phúc Điền Y, Hoại Nạp, Pháp Phục, Pháp Y, Ứng Pháp Diệu Phục, Liên Hoa Y, Giải Thoát Y, Giải Thoát Tràng Tướng Y, Xuất Thế Phục, Ly Trần Y, Vô Cấu Y, Nhẫn Nhục Y. Cà sa của tượng thường có nhiều lớp, có khi bên ngoài còn phủ một lớp hào rồi mới tới lớp áo (như thời Lý), có khi các lớp áo xếp chồng lên nhau liên tiếp (ở các thời kỳ sau).

Tay tượng thường đặt trong tư thế kết ấn như Tam Muội ấn, thế thuyết pháp, thế cứu độ, ấn Cam Lộ, ấn Gia Trì Bản Tôn… Người Việt tin rằng, tất cả chi tiết tạo hình này là bảo chứng cho việc hội nhập vào Niết Bàn, biểu hiện bằng việc Phật ngồi trên đài sen.

Cái hay của dáng ngồi hoa sen này là nó lộ rõ ý nghĩa phối hợp của âm và dương, của lý và trí cùng một thể, một cội nguồn, gắn liền với tinh thần “dịch học”. Nếu kẻ một đường thẳng cân đối chia pho tượng ngồi kiết già thành hai nửa, nửa phải mang yếu tố dương, nửa trái thuộc âm. Phần lớn nhất của mỗi nửa là đùi, nhưng lộ trên đùi phải lại là lòng bàn chân trái, và trên đùi trái là bàn chân phải. Hai nửa thân là âm dương (Lưỡng Nghi), cộng thêm hai lòng bàn chân đan chéo tạo thành Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương (Tứ Tượng). Cách tạo tác này khiến pho tượng đạt đến vẻ đẹp vẹn toàn cả về hình thể lẫn triết học tâm linh.


3. Bốn Phong Cách Tượng Phật Giáo Dọc Theo Chiều Dài Lịch Sử

Như đã luận ở trên, trên bước đường phát triển của nghệ thuật tạo hình Việt Nam, không phải giai đoạn nào phật điện cũng có đủ mọi loại tượng, và không phải triều đại nào cũng tìm thấy tượng dạng nhân cách.

Ở thời Lý, hiện chúng tôi mới chỉ tìm được dạng con người trong nghệ thuật có niên đại vào nửa cuối thế kỷ XI và hai chục năm đầu của thế kỷ XII. Suốt thời Trần và Lê Sơ (từ thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XVI), giới trong nghề tuyệt nhiên chưa tìm được pho tượng Phật hoặc Bồ Tát cụ thể nào còn nguyên vẹn. Các thời kỳ sau, theo sự thăng trầm của đạo Phật và biến động xã hội mà tượng hình nhân cách cũng lúc nhiều lúc ít, nhưng về cơ bản số lượng loại tượng ngày một tăng lên.

Nhìn chung, theo bước đi của thời gian, có thể phân chia các tượng Phật và Bồ Tát thành bốn phong cách rõ rệt:

  • Phong cách thời Lý (Thế kỷ XI – XII): Tinh tế, trau chuốt, mang đậm nét tượng trưng cao quý trên chất liệu đá và đất nung.
  • Phong cách kế thừa thời Lý (Nửa cuối thế kỷ XVI – Đầu thế kỷ XVII): Sự quay trở lại của các đường nét xưa cũ sau một thời gian dài thiếu vắng bóng dáng tượng tròn.
  • Phong cách chuyển tiếp (Cuối thế kỷ XVII – Thế kỷ XVIII): Số lượng tượng trên phật điện bắt đầu tăng, xuất hiện nhiều vị Bồ Tát và các cách bài trí phức tạp hơn như ở chùa Bút Tháp, Tây Phương.
  • Phong cách cuối thế kỷ bấy giờ và thời Nguyễn (Cuối thế kỷ XVIII và XIX): Phật điện trở nên cực kỳ đông đúc, hệ thống tượng thờ đạt đến mức hoàn chỉnh, quy chỉnh nghiêm ngặt và có sự hội nhập của điện thờ Mẫu.