Nguyên tắc sử dụng chất liệu sơn trong nghệ thuật sơn mài

Nguyên tắc sử dụng chất liệu sơn trong nghệ thuật sơn mài trong quá trình làm nghề và tiếp xúc liên tục với chất liệu sơn, người thợ sẽ tự đúc kết được nhiều kinh nghiệm thực tế. Việc nắm rõ một số nguyên tắc cơ bản là điều bắt buộc để chúng ta tránh gặp phải những vấp váp không đáng có trong lúc thể hiện màu sắc trên tác phẩm.


1. Nguyên tắc bảo quản và sử dụng chất liệu sơn cốt lõi

Xét về mặt hóa học, nhựa cây sơn khi tiếp xúc với không khí sẽ dần chuyển sắc. Ban đầu sơn có màu ngà như sữa đặc, sau đó sẫm dần thành màu nâu và cuối cùng chuyển hẳn sang màu đen lúc đã khô hoàn toàn. Chính vì đặc tính này, các bát hay chậu đựng sơn nhất thiết phải được dán phủ kín mặt bằng một tờ giấy bản hoặc giấy xi măng đã quét trước một lớp sơn pha dầu trẩu.

Bên cạnh đó, người làm nghề cần lưu ý những điểm kỵ nhau của chất liệu này:

  • Kỵ vôi, sắt và muối: Nhựa sơn rất kỵ các tạp chất chứa vôi, sắt hay muối. Nếu vô tình để vôi vữa bong lở từ tường rơi lẫn vào mẻ sơn, sơn sẽ bị xám đen và cô sánh đặc lại.
  • Dụng cụ thao tác: Khi đánh sơn chín (sơn đen), người ta phải quấy sơn bằng thanh sắt tôi non (gọi là đánh sắt). Tuy nhiên, khi pha trộn màu, tuyệt đối không được nghiền màu bằng dao sắt hay đựng sơn vào hộp sắt (đặc biệt là sơn cánh gián trong màu) mà phải dùng mo sừng hoặc bay xương.
  • Xử lý phẩm màu chứa muối: Sơn pha với các loại phẩm màu chứa muối sẽ rất lâu khô. Để khắc phục, nên dùng loại sơn chín không có nhựa thông. Tỉ lệ phẩm nhuộm pha vào sơn phải thật ít. Nếu cần màu sắc thật thẫm đỏ hoặc thẫm xanh, thợ nghề sẽ xát một lớp thật mỏng trên nền bạc, sau đó mới quét phủ một lớp sơn cánh gián trong lên trên.
  • Ảnh hưởng của thời tiết: Trời nóng, lạnh, nồm hay hanh đều tác động mạnh đến độ khô của sơn. Vào mùa rét giá lạnh, có thể đặt một ngọn đèn điện 60W trong buồng ủ ẩm để giữ nhiệt độ phòng từ 20°C đến 25°C cho sơn nhanh khô. Nếu để sơn ủ chậm khô quá, lúc đánh bóng mặt sơn sẽ bị mờ, kém bóng đẹp và không đanh mặt.
  • Tránh hiện tượng ngã lửa: Bát sơn sống hay sơn chín cần được bảo quản nơi râm mát, tránh ánh nắng mặt trời. Nếu vô ý để bát sơn trên mặt bàn hoặc bên cửa sổ bị nắng chiếu vào nung âm ỉ, sơn sẽ bị bắt nóng. Loại sơn bị “ngã lửa” này về sau dùng vào việc sẽ không thể khô được, dù có ủ sấp nước kỹ đến đâu.

2. Kinh nghiệm pha chế màu sắc và thao tác kỹ thuật sơn mài

Khi thực hiện pha chế và thể hiện màu sắc trên vóc, người thợ cần tuân thủ các giới hạn kỹ thuật của chất liệu để đảm bảo độ bền cho sản phẩm.

Pha chế bột son và chất gia giảm:

Khi trộn các loại bột son với sơn đã bão hòa và đạt độ tơi tốt nhất, việc cố cho thêm bột son để màu đỏ tươi hơn là không cần thiết. Màu sắc chỉ lên được sắc độ tươi tối đa trong giới hạn của bột son. Nếu cho quá nhiều, sơn sẽ bị đặc rít lại. Lúc này nếu thêm dầu hỏa vào, mặt sơn sẽ bị bở, kém đanh và dễ bị thủng, đứt khi mài.

Kỹ thuật thếp vàng, thếp bạc và phủ cánh gián:

Sơn dùng để thếp vàng bạc có thể pha chút dầu hỏa nhưng phải có chừng mực. Pha nhiều dầu hỏa làm giảm độ dính, khiến vàng bạc bám không chắc. Đến khâu mài nước lớp sơn cánh gián phủ bên trên, lớp vàng bạc rất dễ bị rộp và bong từng mảng.

Khi mài trên các mảng thếp vàng bạc có phủ cánh gián, tuyệt đối không dùng đá mài. Người thợ dùng than xoan mềm mài nhẹ tay hoặc dùng giấy ráp nước số 400 hoặc số 500. Trong lúc mài phải té nước liên tục cho mát mặt sơn. Nếu mài mạnh và tập trung tại một vị trí, ma sát sinh nhiệt sẽ làm mặt sơn thếp vàng bạc bị nóng rộp, phồng lên.

Trước khi phủ sơn cánh gián lên mặt thếp vàng bạc, nên dùng nước sạch để rửa cho đỡ láng mỡ, giúp sơn bám chắc hơn. Rửa xong phải lau thấm thật khô bằng khăn vải mềm, tránh để nước đọng thành giọt tự khô. Các cặn canxi trong nước đọng lại tạo thành hình tròn nhỏ sẽ phản ứng với chất sơn, tạo thành các vết vòng đen làm xấu nước sơn quang sau này.

Đối với mảng bạc thếp để trần hoặc mảng màu vẽ bằng cánh gián rắc bạc, nếu sau khi mài đánh bóng không toát nhẹ một lớp sơn cánh gián mỏng để bảo vệ, bạc gặp không khí và bụi bặm lâu ngày sẽ bị xám đen xịt lại. Gặp trường hợp bạc đã xám, phải đánh bóng lại bằng cách nùn bông với bột than, dùng tay xoa đều rồi toát một lớp sơn cánh gián mỏng lên để bảo vệ.

“Đặc tính tự nhiên của sơn chín và sơn then là để lâu ngày sẽ bị ‘bay sơn’ – tức là nhạt màu dần và trở nên trong vắt. Khi sơn đỏ mới khô, màu thường sẫm hơn lúc ướt; nhưng khi hong ra ánh sáng, sơn nhạt dần và màu đỏ sẽ tươi lên. Vì vậy, cần thận trọng với lối toát sơn mỏng toàn bộ tác phẩm, tránh để lâu ngày bị biến sắc, làm đảo lộn hòa sắc ban đầu.”

Ủ ẩm và vẽ họa tiết:

Sơn vẽ hay tô dù ít hay nhiều đều phải đặt vào buồng ủ ẩm cẩn thận. Nếu để sơn bị bắt hanh sẽ không khô, gây ảnh hưởng trực tiếp đến các nước sơn kế tiếp.

Khi vẽ họa tiết có nhiều đường nét đứng rời và thưa nét, không nên tô sơn quá cao. Nếu tô cao quá, sau khi quét sơn nền phủ tràn lên, lúc mài phẳng lớp nền phông thì những vị trí tiếp cận nét cao đã bị đứt sớm trước khi nền nét kịp phẳng.

Khi sử dụng gôm a-ra-bích tạo nét sẫm trên nền bạc, không pha gôm quá đặc quánh và không tô quá dày. Nếu nét gôm cộm cao, khi toát mỏng lớp sơn tràn qua, sơn sẽ bị tụ dày ở mép gôm. Lúc rửa cho gôm tan trong nước, đường bờ nét gôm sẽ bị cộm cao, đặc sơn và sẫm màu, không đạt yêu cầu phẳng tắp và đều màu của nền.

Khi làm pa-tin lên họa tiết thếp vàng, phải chuẩn bị sẵn một miếng bông nõn tẩm ít dầu hỏa và một miếng bông sạch khô. Quệt một chút dầu lên họa tiết và dùng bông khô lau, làm pa-tin ngay lập tức. Nếu để đẫm dầu quá, lớp vàng sẽ bị tẩy bợt ngay. Có thể dùng đầu cán bút tre nhọn cuộn ít bông mềm để gọt sửa chi tiết nhỏ.


3. Đúc kết về khâu thể hiện màu sắc và kỹ nghệ làm vóc

Bên cạnh giá trị nội dung tư tưởng, tác phẩm sơn mài quý ở sự độc đáo của chất liệu với các hòa sắc huyền ảo, ẩn hiện. Sự say mê tìm tòi của các nghệ sĩ và nghệ nhân lão thành đã làm phong phú thêm nghiên màu ngành sơn, giúp kỹ thuật cổ truyền đáp ứng yêu cầu thời đại mà vẫn giữ vẹn nguyên tính dân tộc.

Từ quá trình chuyển biến từ kỹ thuật cổ truyền sang làm màu sắc hội họa và mỹ nghệ, có ba kinh nghiệm lớn cần lưu ý:

Kỹ thuật làm cốt vóc (khâu bó và hom):

Trong thành phần sơn bó gồm có sơn sống, đất và mùn cưa. Nền vóc để lâu ngày thường bị ngót, khô đét lại. Khi nhìn nghiêng sẽ thấy hiện lên vết sần da cam của lớp vải bọc bên trong, hoặc thớ gỗ, sẹo gỗ nếu cốt mộc không bọc vải.

Kinh nghiệm cho thấy mùn cưa là yếu tố gây ngót nhiều nhất do mùn cưa khô hút nước từ sơn và đất ướt rồi nở ra; theo thời gian, nước bốc hơi làm lớp sơn bó teo lại, lộ cốt mộc. Hiện nay, có thể thể nghiệm thay mùn cưa bằng thạch cao lão hóa, đất đô-lô-mít, hoặc tận dụng các cốt đúc hàng gốm bằng thạch cao bị hỏng đập vụn, xay thành bột mịn để trộn với sơn làm nước sơn hom. Cốt vóc làm theo cách này sẽ đanh mặt và độ ngót không đáng kể.

Kỹ thuật pha chế sơn:

Đây là khâu cần tiếp thu nhiều kinh nghiệm từ các cụ nghệ nhân lão thành để hiểu sâu cách điều chế từng loại sơn phù hợp cho mỗi khâu pha màu. Hiện tại, đa số người làm sơn mài bị lệ thuộc vào bát sơn chín (sơn cánh gián) do người khác pha sẵn giao cho, đồng thời chất lượng sơn phụ thuộc vào vùng trồng cây sơn. Do đó, việc trồng cây sơn và lấy nhựa cần được khuyến khích, đầu tư khoa học kỹ thuật để có nguồn nhựa tốt.

Kỹ thuật thể hiện màu sắc trên tác phẩm:

Dân gian có câu “Đẹp vàng son, ngon mật mỡ”. Làm sơn mài mà thiếu ánh vàng rực rỡ hay son đỏ tươi thì khó tạo nên sự lộng lẫy. Màu sắc sơn mài có độ sâu và sắc độ riêng biệt: từ màu trắng men rạn của vỏ trứng, ánh vàng kim loại ẩn hiện dưới lớp sơn cánh gián, cho đến nền đen huyền sâu thẳm hay nền son tươi đỏ lộng lẫy.

Tuy nhiên, không nên lạm dụng chất liệu. Kỹ thuật thể hiện màu được chia làm hai lối:

Lối pha màu trực tiếp (Dùng bột màu) Lối làm màu gián tiếp (Nhiều lớp sơn phủ)
Pha trực tiếp các bột màu (vàng, trắng, xanh, đỏ…). Nếu lạm dụng quá nhiều, màu sắc bức tranh dễ gợi cảm giác giống sơn tổng hợp (như sơn guốc), mất đi độ quý của chất liệu. Sau một thời gian sơn nhạt đi, màu sắc biến đổi trở nên nhợt nhạt. Sử dụng lối thếp bạc hoặc toát mỏng màu, nhìn xuyên qua lớp sơn cánh gián. Nếu lạm dụng toàn bộ lối này, màu sắc sẽ bị mỏng manh, hời hợt, giống các ấn phẩm màu trên giấy polyethylene để lâu ngày bị bay màu, lộ rõ vết nhũ bạc bên trong, trông bị rơ và sương.

Người thợ cần biết tính toán trước để dung hòa giữa mảng màu pha trực tiếp, mảng gián tiếp và các mảng gắn vỏ trứng, vỏ trai. Việc bố trí hợp lý giúp tác phẩm giữ được tương quan hòa sắc ban đầu theo thời gian. Khi để lâu ngày, lớp sơn cánh gián bay nhạt bớt đi sẽ làm nền sơn đỏ càng tươi lên, nền sơn đen giữ nguyên không đổi, sắc độ vỏ trứng giữ nguyên, còn các họa tiết nằm dưới nước sơn cánh gián già lại càng trong trẻo, sâu màu và quý giá hơn.

Quá trình mài để nổi hình và nổi sắc độ cũng chính là một khâu sáng tác đòi hỏi sự nhẫn nại. Mài không chỉ để phẳng mặt và lộ chi tiết; đôi khi mặt sơn chưa phẳng hoàn toàn nhưng màu đã đạt độ hay thì người thợ phải dừng tay ngay để bổ sung lớp sơn màu khác, sau đó mới tiếp tục mài phẳng nền mặt sơn.