Ngôi chùa Việt Nam: Hồn quê và bản sắc làng xã người trong nghề chúng tôi, bao năm gắn bó với từng thớ gỗ, mái ngói rêu phong, luôn xem ngôi chùa Việt không đơn thuần là nơi thờ tự. Đằng sau những cổng tam quan, những nếp mái đao cong vút ấy là cả một khoảng trời sinh hoạt văn hóa của làng xã từ bao đời nay. Thử nhìn vào những kỳ lễ hội, người ta mới thấy hết cái phần hồn cốt mộc mạc nhưng bền bỉ ấy.
Hội Chùa Làng Xã Và Những Nét Sinh Hoạt Cộng Đồng Thuở Xưa
Cứ đến mùa lễ hội, không khí trong làng lại náo nức hẳn lên. Như tục đua chải chẳng hạn, người xưa kỹ tính lắm. Mỗi thôn phải chọn ra một đội gồm toàn trai đinh khỏe mạnh, quang quẻ, nghĩa là gia đình không có tang chế, bản thân không dị tật, rồi phải tập luyện một thời gian dài cho quen tay chèo.
Nói thì dễ nhưng khi đặt nhát chèo đầu tiên xuống nước mới thấy hết sự công phu. Đến ngày thi, các đội tập trung đến chùa đem thuyền chải ra lạch, từ đó xuôi ra sông Hồng. Sau khi làm lễ dâng hương lễ Phật và Thánh xong, cuộc thi mới chính thức bắt đầu. Lúc này, những con thuyền lao đi vun vút trong tiếng dậm chân rầm rập trên mạn thuyền, tiếng mái chèo khua nước, hòa cùng tiếng trống giục và tiếng hò reo vang dội cả một khúc sông.
Đua chải thực ra là một hình thức sinh hoạt cộng đồng từ rất xưa của nhiều cư dân suốt từ vùng Hoa Nam qua Việt Nam tới các hải đảo châu Á. Mỗi dân tộc có một cách tạo hình thuyền chải khác nhau, song con thuyền bao giờ cũng có dáng dài thon, cần nhiều người chèo theo lối so le hoặc hàng đôi.
Cái hay của hội đua chải là người ta đi thi chỉ để tìm vinh dự trước làng xóm. Dân làng tin rằng thuyền của thôn nào thắng thì năm đó dân thôn ấy sẽ đón nhiều tài lộc do thánh Minh Không – một vị thần linh chính của chùa – ban cho. Phần thưởng của hội, vì thế, mang giá trị tinh thần là chính.
Nhìn chung hội chùa ở các làng quê vốn đơn giản, nhưng dường như chùa nào cũng có hội. Sau khi lễ Phật xong, các cụ bà và tín đồ thường có tục kể hạnh với nhau nơi hành lang, sân chùa hay nhà khách. Họ hát theo giọng chèo, chầu văn để kể về sự tích Chúa Ba, tích Mục Liên cứu mẹ, hay truyện Quan Âm Thị Kính… Đây là một hình thức giáo dục tự nguyện mang tính truyền thống và tính quần chúng rất cao, vừa dễ truyền bá, dễ tiếp thu lại vừa đầm ấm, vui trong sự sùng kính.
Người dân mình từ xưa cũng thường đưa vào chùa nhiều sinh hoạt văn hóa phi Phật giáo, chẳng hạn như hát Quan họ với hội chùa Lim hay rước Thánh với hội chùa Thầy. Ở hội chùa Thầy, ngoài việc lễ Phật, dự rước thì việc vãng cảnh là chính. Người ta rủ nhau đi thăm chùa Long Đẩu, Hoa Phát, rồi lên Bối Am, nhất là lên chợ Trời và xuống hang Cắc Cớ… Ở nơi hang động bảng lảng màn sương ấy, xưa kia trai gái thường đùa nghịch và không ít đôi đã nên vợ nên chồng từ đó.
Thông qua những buổi lễ thường kỳ và hội hè như vậy, rõ ràng ngôi chùa chính là một tụ điểm sinh hoạt văn hóa không thể thiếu của làng xã.
—
Nếp Sống Tu Hành Và Hệ Thống Tăng Ni Qua Từng Vùng Miền
Ở ngôi chùa làng, ngày thường luôn có các nhà sư trụ trì với sự trợ giúp của các Phật tử, nhất là các lão ông, lão bà. Sư thầy ở Việt Nam, nhất là ở vùng Bắc Bộ, không chỉ có mỗi chức năng tu hành để cốt sao được vào cõi Niết Bàn hay giúp đỡ tín đồ bằng giáo pháp. Một việc cực kỳ quan trọng mà các vị thường phải quan tâm tới là làm sao trông nom, tôn tạo cho ngôi chùa mình quản lý ngày càng được khang trang, đúng tư cách là một điểm sáng văn hóa, nơi tụ hội của quần chúng. Xa rời quần chúng cũng có nghĩa là xa rời kiếp tu và mọi mối quan hệ với đạo.
Thứ bậc trong hệ thống tăng ni
Hệ thống tăng ni ở Việt Nam hiện nay được phân định rõ ràng. Cao nhất là Hòa thượng – những người đã tu hành lâu năm, giác ngộ Phật pháp ở mức độ cao, tự nhiên tự tại, có nhiều khả năng đem Phật pháp giáo hóa chúng sinh. Tiếp tới là Thượng tọa, rồi đến Đại đức, sư Bác, sư Ông, chú Tiểu… Bên hệ thống ni thì có cô sư cụ, sư Thầy, sư Bác, sư già, chú tiểu… Tất cả những người này đều đã nguyện theo Bồ Tát hạnh.
Sự khác biệt giữa hai miền Nam – Bắc
Đi nhiều, quan sát nhiều mới thấy nếp áo của các nhà sư hai miền cũng có sự khác biệt rõ rệt:
- Các nhà sư phía Nam: Thường mặc áo cà sa màu vàng. Đó là màu của sự giải thoát, không lệ thuộc vào mọi điều kiện sinh ra bởi dục vọng.
- Các nhà sư phía Bắc: Thường mặc áo màu nâu gụ. Sắc áo mộc mạc này là nhằm chống sự ngã mạn, tức là thói kiêu ngạo, tự cao tự đại.
Có một thực tế là trong ngôi chùa ở phía Bắc hiện nay thường ít sư hơn chùa phía Nam, thậm chí nhiều nơi còn không có sư trụ trì. Sở dĩ có hiện tượng này vì ngôi chùa cụ thể đó kém quyền lợi (như chùa Bút Tháp ở Hà Bắc ngày trước rất lớn nhưng một thời không nhà sư nào chịu về ở), hoặc gốc của chùa vốn là nơi trụ trì của những nhà sư kiêm đạo sĩ. Nghĩa là các vị ngoài việc tu Phật còn có nhiều hành động mang tính chất của phù thủy, như Từ Đạo Hạnh với chùa Thầy, hay Minh Không với chùa Keo (gần đây chùa Thầy mới có sư do Tỉnh hội Phật giáo Hà Tây cử về). Thực tế là, cả trước đây và hiện nay đã có một số nhà sư hóa thân dần thành thầy cúng mà nhẹ việc Phật, giảm đi việc giáo hóa chúng sinh.
—
Giá Trị Giáo Dục Thiện Tâm Và Vấn Đề Nghệ Thuật Chùa Việt
Dẫu thăng trầm thế nào đi chăng nữa, chùa Việt vẫn luôn là sản phẩm văn hóa nổi bật theo bước chân lịch sử của dân tộc. Cũng như nhiều tôn giáo tín ngưỡng khác với giáo lý cơ bản của nó, đạo Phật luôn đặt trọng tâm vào việc giáo dục Thiện tâm, tính nhân bản, hướng con người ta đến mọi điều tốt lành cho mình và cho người.
Trong một chừng mực nào đó, có thể coi chùa Việt là một trong những nơi giáo dục sâu sắc về lòng yêu quê hương xứ sở, về tình người đậm nét thuộc bản sắc văn hóa dân tộc. Qua mái chùa, rất nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực lịch sử, xã hội, tâm lý, ước vọng của cha ông đã được biểu hiện một cách cụ thể. Như thế, những điều tiêu cực gắn với ngôi chùa nếu có, thì không phải ở tự thân nó hay ở bản chất của đạo lý, mà chính ở những người đã sử dụng nó để làm các việc bất thiện, bước ra ngoài giới luật.
Nói tới nghệ thuật chùa Việt mà chưa đề cập tới các ngôi chùa ở phía Nam thì quả thực là một thiếu sót lớn. Song mọi thứ đều có lý do của nó. Cho tới nay, chúng ta rất khó tìm được những dấu vết của chùa Việt trước thời Nguyễn ở những vùng đất này. Hơn nữa, kiến trúc cổ nơi đây chưa đủ tư cách điển hình trên toàn quốc, nhất là khi so với những ngôi chùa cùng thời ở đất Bắc. Mặt khác, tư liệu nghệ thuật về chùa phía Nam cũng chưa đủ để chúng ta có thể đưa ra được những nhận xét mang tính tổng quát.
Những người trong nghề như chúng tôi chỉ mong tập tài liệu này được coi như một vài gợi ý nhỏ cho những ai ít có điều kiện tiếp xúc với nghệ thuật Phật giáo. Hy vọng rằng, những dòng viết đơn giản trên vẫn phần nào gợi lên vài cảm nghĩ cho các nhà nghiên cứu và nghệ sĩ sáng tác nghệ thuật. Được như thế, đã là một may mắn lớn cho chúng tôi rồi.
