Nghiên cứu nhang án cổ của người Việt nối tiếp mạch nguồn của loại hình nhang án đá mang phong cách thời nhà Trần, giới nghiên cứu hiện tại mới chỉ ghi nhận được một hiện vật độc bản sở hữu niên đại muộn, nhiều khả năng được tạo tác vào thế kỷ XIX, đặt tại chùa Tân Tiến thuộc vùng An Dương, Hải Phòng.
Bố cục mặt bằng của bệ thờ này biểu hiện cấu trúc tương tự như các mẫu nhang án tại chùa Đại Bi và chùa Bối Khê thuộc vùng đất Hà Đông cũ. Tại bốn góc của công trình vẫn xuất hiện hình tượng chim thần Garuda, tuy nhiên phương thức trang trí đã bắt đầu để lộ các vết đẽo đá thô ráp — vốn đã chuyển hóa thành một thủ pháp nghệ thuật riêng biệt của thời kỳ này.
Đi kèm với đó là đồ án chim phượng ngậm cuốn thư, một đề tài mỹ thuật xuất hiện ở giai đoạn rất muộn. Dẫu vậy, căn cứ theo lời kể của các bậc cao niên tại địa phương, bệ thờ này vốn được thu mua lại từ một không gian khác rồi tiến hành đục đẽo bổ sung những phần cấu trúc bị sứt mẻ. Chính vì lẽ đó, giới khoa học vẫn chưa thể xác định một cách tường bạch về lai lịch của hiện vật này.
Kể từ thế kỷ XVII trở đi, hệ thống nhang án bằng chất liệu đá giảm dần ý nghĩa gắn kết trực tiếp với giáo lý Phật pháp nếu đặt cạnh các bệ thờ thuộc giai đoạn lịch sử trước đó. Dù vậy, chúng vẫn được tô điểm đậm đặc bởi các đề tài trang trí mang tính thống nhất cao tương tự như trên các loại chất liệu khác.
Chiếc nhang án đá được đánh giá là có kích thước đồ sộ nhất của giai đoạn này được tạo tác vào năm 1666 (nhằm năm Vĩnh Trị thứ 2), đặt tại không gian khu nhà mồ của võ tướng Lê Thời Hiến ở xã Thọ Phú, huyện Thiệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Hiện vật sở hữu kích thước chiều dài chạm mốc 3,70m, bề rộng đạt 2,40m và chiều cao vượt trên 1m.
Do được bài trí ở không gian ngoài trời, bề mặt nhang án tương đối tối giản, chỉ đặt độc nhất một bát hương chế tác bằng đá. Bộ phận tầng trên cùng và mảng hông của bệ thờ được gia công bằng kỹ thuật bào soi vỏ măng trơn phẳng, nối tiếp phía dưới là các dải đường diềm trang trí. Trong đó, một dải diềm được lấp đầy bởi đồ án những cụm hoa cúc cách điệu kết hợp nhịp nhàng cùng các đao lửa tương ứng.
Mỗi cụm hoa đều được người thợ đá tỉa tót vô cùng tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ, tạo hình theo xu hướng úp cong thành hình vỏ măng có tính đối xứng cao. Khu vực thắt dưới của thân nhang án có kích thước khá lớn, được xử lý theo lối cong lợi chậu. Đây là nơi kết hợp quy chuẩn giữa đồ án những nửa bông hoa cúc — biểu trưng cho các nguồn phát sáng — điểm xuyết cùng hệ thống các cụm vân xoắn với kích cỡ to nhỏ khác nhau đang tỏa ra dải đao mác sắc nét. Tại bốn góc bệ, phần chân đế được tạo tác theo quy chuẩn chân quỳ. Hiện vật vĩ đại này được ghép nối từ hai khối đá lớn, tạo lập một diện mạo vô cùng bề thế nhằm tôn vinh vị thế của chủ nhân khu mộ.
Vào niên đại năm 1675, chúng ta cũng bắt gặp quần thể nhiều nhang án đá khác tại khu nhà mồ của dòng họ Đặng thuộc địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Xét về mặt tỷ lệ hình học, các bệ thờ này cũng được thiết kế dưới dạng khối hộp chữ nhật và sở hữu chiều cao khá lớn.
Một đặc điểm kiến trúc hoàn toàn khác biệt so với các nhang án thuộc thế kỷ XVI trở về trước là tại vị trí bốn góc của mặt trên nhang án đã xuất hiện cấu trúc phần “tai” kéo dài loe sang hai bên hông theo kết cấu kiểu cánh gà. Chi tiết tạo hình này đóng vai trò như một khung viền giới hạn lại không gian ở bề mặt bệ thờ.
Nối tiếp phía dưới là hệ thống các đường diềm cánh sen được gia công bằng kỹ thuật bào soi, dải diềm lá sòi rồi đến hàng cánh sen vuông khối lớn… Toàn bộ các mảng chạm này được tổ chức theo lối giật cấp mạch lạc, mang lại giá trị mỹ thuật rất cao cho công trình.
Tại chiếc nhang án chủ đạo, phần thân được phân chia thành các ô hộc lớn nhỏ nằm xen kẽ nhau. Bên trong lòng các ô hộc này trang trí đồ án hoa cúc cách điệu đang bốc lên các đao lửa dữ dội, riêng các ô hộc phụ phụ trách chạm khắc hình ảnh những cành hoa cúc mảnh mai. Khu vực phía dưới là dải hàng cánh sen trong tư thế ngửa và úp đối đãi nhau; chen giữa hai hàng này là một đường diềm mang kiểu dáng vỏ măng khối lớn, tạo nên thế cân xứng hoàn hảo với tầng kiến trúc phía trên. Phần chân đế của nhang án được đục đẽo đồ án hoa cúc với phần cánh hoa được tỉa tót rất kỹ, chuyển hóa thành hình dáng các cụm vân xoắn sinh động. Hệ thống chân đế cũng tuân thủ theo mô hình chân quỳ chân thực.
Một hiện vật nhang án khác nằm trong quần thể di tích họ Đặng này lại mang cấu trúc như một sự hợp thể tài tình giữa một chiếc nhang án thông thường đặt định vị phía trên một chiếc sập chân quỳ, dù trên thực tế toàn bộ các bộ phận này đều được đục đẽo từ độc nhất một khối đá nguyên vẹn.
Xét về phương diện bố cục, khu vực phía trên của hiện vật lưu giữ ít nhiều đặc điểm tạo hình tương tự như mẫu nhang án vừa mô tả, tuy nhiên phần nền của các ô hộc trang trí tại đây lại được lấp đầy bằng hoa văn hình triện gấm chữ Vạn. Tâm điểm của các ô hộc lớn là đồ án ngọn lửa mang dáng dấp lá đề bao bọc xung quanh hệ thống các biểu tượng thuộc cấu trúc Bát quái (như quẻ Càn, quẻ Khôn…).
Khu vực phía dưới gây chú ý bằng hiện tượng bào soi vỏ măng làm nổi bật lên các hình ảnh trang trí hoa cúc, mang phong cách tương đồng với bệ thờ của võ tướng Lê Thời Hiến. Phần cấu trúc “sập” ở bên dưới được phân bổ một cách hài hòa, tối giản, song điểm đặc sắc nhất nằm ở mảng bụng sập khi được chạm nổi dải các biểu tượng hình thoi và hình tròn sắp xếp nối tiếp nhau. Qua các chi tiết này, người xem có thể cảm nhận phảng phất những ước vọng về phồn thực của cư dân nông nghiệp, ít nhiều có sự tiếp thu ảnh hưởng từ quy chuẩn mỹ thuật Trung Hoa. Hiện vật cũng được tạo tác theo kiểu dáng chân quỳ, riêng phần khoảng không giữa hai chân được làm võng xuống theo lối dạ cá (được cấu thành từ một nửa bông hoa cúc phối hợp cùng cụm vân xoắn lớn và dải đao lửa cân đối).
Giới nghiên cứu cũng có thể tiếp cận với rất nhiều mẫu nhang án đá khác thuộc niên đại thế kỷ XVIII, tiêu biểu như hiện vật tại khu Từ Vũ ở vùng Yên Thường, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Về mặt đại thể, công trình này chính là sự kế thừa trực tiếp và gần gũi từ phong cách tạo hình của nhang án họ Đặng, tuy nhiên các nghệ nhân đương thời đã gia tăng mật độ chạm trổ lên rất cao, đục đẽo vô cùng kỹ lưỡng các đề tài về hệ thống linh vật cùng mảng hoa lá thiêng liêng. Đặc biệt, tại vị trí hai góc phía trước của nhang án còn xuất hiện đôi tượng lân nhỏ được gọt giũa cực kỳ trau chuốt, chạm đến độ chuẩn mực cao về mặt mỹ thuật.
Ngoài ra, có thể liệt kê thêm hàng loạt mẫu nhang án đá điển hình khác hiện đang hiện diện tại đền Phú Đa thuộc vùng Sơn Tây, tại khu nhà mồ Dinh Hương hay khu lăng mộ họ Ngọ ở huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, cùng rất nhiều không gian đền thờ và lăng mộ của các vị Quận công khác trong lịch sử.
Suy cho cùng, hệ thống nhang án đá cổ thường tồn tại dưới nhiều dạng thức phong phú khác nhau, song đa phần đều được tổ chức theo cấu trúc hình hộp chữ nhật. Ở giai đoạn từ thời kỳ nhà Mạc trở về trước, tiêu biểu là dưới thời nhà Trần, bệ thờ thông thường được cấu thành từ phương thức lắp ghép nhiều khối đá to nhỏ lại với nhau.
Thế nhưng, bước sang thế kỷ XVII trở đi, hiện tượng ghép nối nhiều mảnh đá nhỏ đã giảm hẳn về mặt tần suất, thậm chí có rất nhiều nhang án được đục đẽo hoàn toàn từ một khối đá nguyên khối độc nhất. Cho đến thời đại nhà Mạc, nhang án vẫn mang chứa nhiều dấu ấn văn hóa chung với không gian nghệ thuật Đông Nam Á.
Từ thế kỷ XVII trở về sau, các yếu tố giao thoa khu vực này gần như đã bị thay thế hoàn toàn bởi một hệ nhận thức mới mang đậm các đặc trưng dân dã bản địa. Bước sang thế kỷ XVIII trở đi, hiện tượng chạm khắc trang trí trên chất liệu nhang án đá bộc lộ xu hướng giản lược rõ rệt, có rất nhiều bệ thờ chỉ giữ lại một vài đường đường triện kết hợp cùng các gờ nổi kích thước lớn làm điểm nhấn.
2. Hệ thống nhang án chất liệu gỗ và đặc trưng tai loe chân quỳ dạ cá
Cũng tương tự như nhiều loại hình hiện vật được chế tác từ chất liệu gỗ khác, do đặc tính tự nhiên của gỗ vốn không có độ bền vững cao trước thời gian và khí hậu, nên cho đến nay giới khảo cổ hoàn toàn chưa tìm thấy bất kỳ một đồ thờ tự bằng gỗ nào có niên đại xuất hiện trước thế kỷ XVI.
Riêng đối với mảng hiện vật nhang án, các mẫu vật có niên đại sớm nhất được phát hiện mới chỉ xác định mốc thời gian từ khoảng giữa thế kỷ XVII trở lại đây. Cũng chính nhờ vào đặc tính của chất liệu gỗ sở hữu độ mềm, giúp cho kỹ thuật đục đẽo, chạm khắc dễ dàng hơn rất nhiều so với chất liệu đá thô cứng, nên nhang án gỗ sở hữu vô vàn hình thức và kiểu dáng tạo hình đa dạng khác nhau.
Trong không gian thế kỷ XVII, nhang án gỗ được phân chia thành nhiều chủng loại rõ rệt. Thông thường, những chiếc nhang án được bài trí trang trọng ở gian chính giữa, đặt ngay trước không gian của thần linh sẽ có kích thước đồ sộ nhất, bao gồm ba dạng thức cấu trúc nền tảng: dạng nhang án sở hữu “tai” kết hợp hệ thống chân quỳ dạ cá; dạng nhang án cấu trúc hình hộp chữ nhật với chiều cao vừa phải; và dạng nhang án thiết kế hình hộp chữ nhật dáng dài.
Bước sang các thế kỷ giai đoạn sau, về mặt cơ bản các nhang án gỗ vẫn tiếp tục duy trì phong cách tạo hình kinh điển của thế kỷ XVII. Tuy nhiên, chúng đã được nâng cao hơn về mặt kích thước hình học, mảng hoa văn trang trí giảm bớt độ cầu kỳ, phức tạp và trong nhiều trường hợp đã bắt đầu đưa vào các đồ án chạm khắc dựa theo các tích truyện cổ dân gian. Ở giai đoạn này, các mẫu nhang án dạng hình hộp chữ nhật được ứng dụng với mật độ vô cùng phổ biến.
Về dạng thức nhang án có tai loe: Xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XVII, mà những minh chứng điển hình nhất hiện đang tọa lạc tại di tích chùa Bút Tháp và chùa Thầy, đây được đánh giá là những chiếc nhang án gỗ có kỹ thuật chạm trổ tinh xảo, trau chuốt vào loại bậc nhất tại nước ta.
Đặc trưng của nhóm nhang án này là sở hữu phần “tai” mang tạo hình kiểu lợi chậu vươn chéo hẳn lên về phía hai bên hông bệ thờ, nằm ngay dưới cấu trúc tai loe này là các hàng băng trang trí nối đuôi nhau được đục đẽo cực kỳ kỹ lưỡng. Bước vào giai đoạn cuối thế kỷ XVII (gắn liền với niên hiệu Chính Hòa), cấu trúc tai loe của nhang án thậm chí còn được các nghệ nhân bố trí xuất hiện ở ngay cả mặt mặt trước của công trình.
Thông thường, phần tai loe bố trí ở hai bên hông hồi ít khi được tập trung trang trí hoa văn, thế nhưng phần tai loe xuất hiện ở bề mặt phía trước lại được gọt giũa vô cùng công phu. Khảo sát mẫu nhang án tại đình Thổ Hà, phần tai loe phía trước được bo viền ở góc trên bằng hệ thống các cung tròn cao thấp kết nối liên tiếp nhau, đặt định vị đăng đối hai bên của một chữ Phúc đã được cách điệu nghệ thuật. Bề mặt của phần tai loe này được đục chạm theo kỹ thuật chạm thủng đồ án bốn con rồng hình yên ngựa, đóng vai trò làm vật cưỡi cho bốn vị vũ nữ thiên thần đang trong tư thế múa uốn lượn sinh động.
Tiếp ngay phía dưới là bộ phận thân nhang án, mở đầu bằng các dải đường diềm kích thước nhỏ chạm khắc đồ án cánh sen dưới nhiều hình thức biểu hiện khác nhau. Kế tiếp là hệ thống phân chia các ô hộc dùng để trang trí rồng cùng mảng linh vật thiêng. Nằm dưới tầng ô hộc này lại là các dải đường diềm trang trí khác, nhiều đoạn được xử lý bằng kỹ thuật chạm thủng, soi hình vỏ măng sắc nét diễn tả đề tài hoa cúc.
Tổng thể cấu trúc nhang án tuân thủ chặt chẽ theo mô hình chân quỳ dạ cá. Bộ phận dạ cá được tạo tác với kích thước khá lớn, làm nghiêng chéo hẳn ra phía ngoài không gian như một dụng ý nghệ thuật nhằm phơi bày toàn bộ tài năng điêu khắc bậc thầy thông qua các đồ án chạm rồng, hình ảnh quả cầu lửa cùng hệ thống hoa văn cách điệu phức tạp. Tại vị trí bốn chân quỳ thông thường được chạm khắc nổi hình tượng hổ phù và rồng bằng kỹ thuật chạm bong kênh nổi khối ấn tượng.
Nếu lấy hệ thống nhang án tại di tích chùa Bút Tháp làm ví dụ đối chiếu, các bệ thờ tại ngôi chùa này do nhận được sự bảo trợ trực tiếp và mạnh mẽ từ phía hoàng gia, triều đình nên tất cả đều mang chứa tính quy chuẩn, đạt đến độ mẫu mực cao trên cả phương diện bố cục tổng thể lẫn nghệ thuật chạm khắc điêu khắc.
Tại không gian gian thờ chính tính từ ngoài tiến vào trong, đặt ngay trong khu vực của tòa nhà “ống muống” là chiếc nhang án thứ nhất sở hữu niên đại xuất hiện khoảng nửa sau thế kỷ XVII. Công trình được tạo tác theo quy chuẩn chân quỳ dạ cá vững chãi, bốn chân quỳ là hình ảnh bốn con rồng đang gồng mình đội lấy hình tượng hổ phù đầy uy lực.
Mảng dạ cá trang trí dày đặc đồ án các bông hoa cúc cách điệu phối hợp nhịp nhàng với dải đao mác nhọn, tạo cảm giác như một sự hóa thân tài tình của linh vật hổ phù. Trên khu vực thân nhang án, các nghệ nhân tiến hành phân chia các ô hộc lớn nhỏ nằm ngang hàng nhau với hệ thống các gờ chia ô nổi hẳn lên với kích thước lớn.
nhằm triệt tiêu sự thô cứng, nặng nề của các đường gờ khối này, người xưa đã khéo léo dùng kỹ thuật soi gờ để tạo ra các đường chỉ chìm chạy song song nhau trên bề mặt. Trong lòng các ô hộc tập trung chạm khắc đồ án rồng bằng kỹ thuật chạm bong kênh và trổ thủng xuyên thấu, bên cạnh đó cũng có một số ô hộc dành riêng để chạm hoa cúc. Người nghệ nhân xưa sở hữu một tư duy điêu khắc cực kỳ sâu sắc, biết cách phối hợp nhuần nhuyễn giữa các mảng chạm để tạo ra một độ sâu không gian vừa vặn cho khung trang trí, giúp làm nổi bật hoàn toàn đề tài chủ đạo.
Chiếc nhang án gỗ mang tính chất điển hình và đạt đỉnh cao điêu khắc cho dạng thức này tại chùa Bút Tháp được tôn trí ngay phía sau bệ thờ thứ nhất, nằm trọn trong không gian của tòa thượng điện linh thiêng. Đây là một tác phẩm điêu khắc vô cùng tinh xảo, có thể xem như một cuộc thao diễn kỹ thuật chạm khắc gỗ ở cấp độ tối cao của người xưa.
Chính hiện tượng loang lổ, phai nhạt của các lớp màu sắc do dấu ấn của thời gian tạo nên lại càng góp phần tôn vinh giá trị mỹ thuật và nét cổ kính của bệ thờ. Về mặt bố cục hình học, nhang án này sở hữu đặc điểm tương tự như bệ thờ thứ nhất với các thông số kích thước: chiều dài đạt 2m, bề rộng là 1,5m và chiều cao chạm mốc 1,5m.
Phần tai loe ở hai bên hông được uốn lượn theo hình lợi chậu với chiều cao nhô lên tới 0,2m, bề mặt phía ngoài chạm nổi hai hệ thống lớp cánh sen chính và cánh sen phụ xen kẽ. Ở giai đoạn lịch sử này, các cánh sen thông thường được tạo tác dưới dạng hình vuông sở hữu phần mũi cánh nhô cao lên một chút, đóng vai trò làm bệ đỡ nâng giữ lấy một bông hoa cúc đang độ mãn khai nằm trọn trong lòng cánh; từ vị trí này lại có ba dải đao mác nhọn hoắt bay xuôi xuống phía dưới.
Mảng bố cục trang trí này chính là biểu hiện nghệ thuật phản ánh triết lý đối đãi của cặp phạm trù âm dương, trong đó cấu trúc cánh sen mang chứa yếu tố Âm (nữ tính/đất nước), còn hình tượng hoa cúc kết hợp cùng đao mác được xem là biểu tượng đại diện cho nguồn phát sáng, mang chứa yếu tố Dương (nam tính/mặt trời). Nằm ngay bên dưới cấu trúc tai loe là các đường gờ nổi tạo thành những dải băng trang trí chạy dài, cũng được chạm nổi hàng loạt dải cánh sen đồng dạng.
Đặc điểm mỹ thuật độc đáo của bệ thờ này là còn sở hữu một đường diềm buông rơi cũng chạm khắc đồ án cánh sen vuông vuông vắn. Đây là một bộ phận kiến trúc được đục đẽo hoàn toàn tách biệt rồi mới tiến hành ghép nối vào tổng thể bệ thờ, phương thức này tạo ra các độ kênh bong, cao thấp khác nhau giữa các tầng trang trí, giúp nâng cao hiệu ứng điêu khắc và mang lại cảm xúc thẩm mỹ mạnh mẽ hơn rất nhiều cho người thưởng lãm.
Bộ phận thân của nhang án, xét trên cả bốn bề mặt, đều được biểu hiện dưới hình thức phân chia các ô hộc rõ rệt. Hệ thống khung ô hình vuông và hình chữ nhật với kích thước to nhỏ nằm ken chặt vào nhau, tuân thủ nghiêm ngặt theo phong cách thẩm mỹ của chiếc nhang án thứ nhất.
Bên trong lòng của tất cả các ô hộc này đều được xử lý bằng kỹ thuật chạm thủng điêu luyện để diễn tả các đề tài rồng đuổi, rồng ổ… Tại bề mặt phía trước cấu tạo gồm 3 ô vuông với kích thước lớn, thì ở bề mặt phía sau và hai bên hông hồi chỉ bố trí độc nhất một ô vuông.
Nằm tại vị trí trung tâm của các ô vuông này là một mặt tròn chạm nổi hình tượng một con rồng được nhìn theo góc chính diện (trực diện), phần thân rồng uốn lượn mềm mại bao bọc xung quanh khuôn mặt. Tại vị trí bốn góc của ô vuông được trấn giữ bởi bốn bông hoa cúc. Cấu trúc sắp xếp mang tính biểu trưng cao này được nhiều nhà khoa học nhận định là một biểu hiện khác của triết lý đối đãi âm dương, đồng thời mang hàm ý đề cao vị thế của đấng quân vương, chứng minh nhang án này có sự bảo trợ và can thiệp trực tiếp từ phía vương triều.
Mặt khác, thông qua các đồ án điêu khắc này, chúng ta có thể nhận diện đây chính là những nét gạch nối tiền đề, đặt nền móng cho sự xuất hiện của nghệ thuật chạm khắc ô hộc cung đình tại Huế giai đoạn sau, đồng thời cũng cung cấp những hình ảnh về cấu trúc rồng ngang có khả năng là sớm nhất trong nền nghệ thuật nước nhà, vốn là loại hình về sau sẽ phát triển rực rỡ và phổ biến ở đất kinh đô Huế nhiều hơn bất kỳ vùng miền nào khác.
Khu vực phía dưới của tầng thân nhang án tiếp tục là một hệ thống các đường diềm trang trí được tổ chức một cách đối xứng, hài hòa với phần kiến trúc phía trên. Không gian này được lấp đầy bởi các hàng cánh sen nối tiếp, kết hợp cùng các đoạn chạm khắc hoa cúc bằng kỹ thuật chạm bong kênh tạo hình vỏ măng sinh động và dải đồ án chạm rồng uốn lượn sở hữu khúc thân rất dài.
Bộ phận chân đế của bệ thờ được tạo tác theo quy chuẩn chân quỳ dạ cá kép vô cùng đặc biệt. Hai lớp dạ cá này được thiết kế theo lối kênh chéo hẳn ra phía ngoài không gian, trong đó lớp dạ cá phía dưới có kích thước đồ sộ hơn lớp phía trên (lớp trên có độ dày 20cm, lớp dưới đạt tới 30cm).
Mảng chạm của phần dạ cá phía trên diễn tả một đôi rồng đang trong tư thế vận động chạy lao vào nhau, từ khu vực đầu và thân rồng bay tỏa ra rất nhiều dải đao mác nhọn bén. Tâm điểm hội tụ của toàn bộ mảng chạm này là hình ảnh một bông hoa cúc mãn khai đặt trang trọng trên một đài sen nhỏ… Toàn bộ hệ thống tạo hình phức tạp này phối hợp chặt chẽ với nhau, điểm xuyết thêm các hoa văn vân xoắn cùng dải đao mác, tạo lập nên một thế cân xứng, vững chãi đầy chắc chắn.
Nền nghệ thuật thể hiện tại đây mang lại cảm giác ấm áp, mạch lạc; dù mật độ chi tiết dày đặc song từng nét chạm đều vô cùng rành mạch, dứt khoát. Tại mảng dạ cá phía dưới cũng xuất hiện đồ án rồng chầu tương tự, tuy nhiên vị trí trung tâm của hoa cúc đã được thay thế bằng hình tượng một mặt trời đang tỏa ra các đao mác nhọn, đặt trang trọng bên trong một khung viền mang kiểu dáng của chiếc lá sòi.
Tại vị trí hai góc ngoài cùng phía đầu của mảng chạm lại bố trí thêm một đôi rồng đồng dạng đang trong tư thế ngoi đầu lên phía trên. Khác biệt căn bản với lớp dạ cá phía trên, mảng dạ cá phía dưới được gia công hoàn toàn bằng phương thức trổ thủng xuyên thấu. Tuy đồ án thể hiện là rồng chầu mặt trời, song ngay trước miệng của rồng vẫn xuất hiện một vòng tròn biểu tượng của thái cực — một hình tượng trang trí cực kỳ hiếm gặp trong các bố cục mỹ thuật tương đồng của người Việt.
Hệ thống bốn chân quỳ của chiếc nhang án này sở hữu đặc điểm tạo hình tương tự nhau. Khu vực vai chân quỳ được chạm khắc hình tượng hổ phù dưới dạng thức mặt “thao thiết” kinh điển, phần chân quỳ thể hiện hình ảnh một con rồng đang vận động chạy dọc xuống phía dưới rồi khẽ ngóc đầu quay hướng ra ngoài không gian, hai bàn chân rồng đạp mạnh vững chãi xuống nền móng phía dưới.
Hình tượng rồng cũng được điểm xuyết rất nhiều hoa văn vân xoắn cùng hệ thống đao lửa. Tất cả được sắp đặt một cách có tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng, phối hợp nhịp nhàng với thủ pháp chạm lộng và chạm bong kênh nổi khối, phô diễn một trình độ kỹ thuật công nghệ cao và đậm chất nghề nghiệp của người thợ mộc xưa.
Chúng ta có thể hoàn toàn khẳng định rằng chiếc nhang án gỗ xuất sắc này cùng với chiếc nhang án đặt tại tòa điện Thánh thuộc di tích chùa Thầy chính là những tác phẩm nghệ thuật điển hình, đại diện cho đỉnh cao của nền nghệ thuật chạm khắc gỗ cổ truyền của cha ông ta thời xưa.
