Lịch sử nghệ thuật sơn mài Việt Nam và giá trị tâm linh

Trải qua nghìn năm văn hiến, nghệ thuật sơn mài không chỉ đơn thuần là một ngành nghề thủ công truyền thống, mà đã trở thành biểu tượng văn hóa cố kết sâu sắc với đời sống tâm linh, tôn giáo và nghệ thuật tạo hình cao cấp của dân tộc Việt Nam. Từ chất nhựa cây tự nhiên nơi núi đồi trung du, qua đôi bàn tay khéo léo và óc sáng tạo độc đáo của các bậc tiền nhân, sơn mài đã kiến tạo nên một thế giới “vàng son lộng lẫy”, tôn vinh sự trang nghiêm của chốn thờ tự và các tác phẩm mỹ nghệ lưu danh hậu thế.

I. Nguồn Gốc Chất Liệu Và Đặc Tính Độc Đáo Của Sơn Ta

Nền tảng cốt lõi của ngành nghề sơn mài bắt nguồn từ nhựa chích từ vỏ cây sơn – loại cây được trồng phổ biến trên các triền đồi đất thuộc vùng trung du Bắc Bộ nước ta. Nhựa sơn tự nhiên sở hữu những đặc tính sinh học và vật lý vô cùng độc đáo:

  • Độ bền và tính gắn kết vượt trội: Từ thuở xa xưa, với độ dính cao và đặc tính bền chắc, nhựa sơn sống đã được sử dụng như một loại keo kết dính đặc biệt để hàn gắn gỗ, tre, nứa, ghép mộng chắp nối gỗ, gắn thuyền, hoặc trát bó mắt đan tre nứa nhằm chống thấm nước.

  • Khả năng bảo ôn và thẩm mỹ: Do chịu được độ ẩm cao, nhựa sơn được quét lên các khí cụ bằng gỗ như bàn ghế, tủ tường, rương hòm để vừa tạo độ bóng đẹp sang trọng, vừa bảo vệ cốt gỗ gia tăng tuổi thọ.

  • Ứng dụng kỹ thuật vượt biên giới: Vào khoảng thế kỷ XVI, các thương gia phương Tây đã du nhập chất nhựa sơn Á Đông về châu Âu để ứng dụng vào việc chế tác dòng đàn vĩ cầm lừng danh Stradivarius. Trong thời kỳ hiện diện tại Việt Nam, người Pháp cũng thử nghiệm thành công việc dùng sơn ta quét lên cánh máy bay lợp bằng vải (hiện vật hiện còn trưng bày tại Bảo tàng Kỹ thuật Paris). Ngoài ra, nhựa sơn còn được ứng dụng làm véc-ni chống gỉ sét và chất cách điện.

Thông qua các phương pháp chế biến cổ truyền phong phú, nhựa sơn sống được tinh luyện thành các loại “sơn chín” khác nhau: loại cho ra sắc đen lánh (sơn then) sâu thẳm, bóng bẩy; loại lại cho sắc trong hung hung nâu (sơn cánh gián) lộng lẫy, quyến rũ. Các đặc tính này chính là cơ sở để người thợ tài hoa tạo nên những món đồ mỹ nghệ duyên dáng và đặc biệt là hệ thống đồ thờ tự phục vụ tôn giáo, chủ yếu là Đạo Phật.

II. Tiến Trình Lịch Sử Và Các Cột Mốc Di Sản

Nguồn gốc của ngành nghề sơn cổ truyền vẫn là chủ đề có nhiều luận điểm học thuật. Một số ý kiến cho rằng người Nhật Bản đã biết làm nghề sơn từ 300 năm trước Công nguyên, số khác lại nhận định nguồn gốc từ Trung Quốc.

  • Tại Nhật Bản: Các hiện vật lưu lại tại Điện Nara như bao kiếm sơn đen kẻ chỉ vàng, hộp lồng từ thời Nhật hoàng Sho-Mu (724 – 748) chứng minh sự phát triển sớm, và nghề sơn đạt độ thịnh hành đỉnh cao vào thời kỳ Toku-Gawa (thế kỷ XVII).

  • Tại Trung Quốc: Nghề sơn phát triển rực rỡ dưới triều Minh (1368 – 1644) và triều Càn Long (1736 – 1796). Khảo cổ học tại các mộ cổ thời Hán (200 năm trước Công nguyên) cũng phát hiện bát đĩa sơn, lẵng sách sơn trong đỏ ngoài đen có kẻ vẽ họa tiết vàng kim.

  • Tại Việt Nam:

    • Bằng chứng khảo cổ: Ngành khảo cổ học Việt Nam khi khai quật khu di chỉ Việt Khê (Thủy Nguyên, Hải Phòng) đã phát hiện ngôi mộ cổ có niên đại hàng trăm năm trước Công nguyên. Trong mộ chứa các hiện vật đồ nghề như bát sơn, hộp gỗ sơn trong đỏ ngoài đen, bát đánh sơn chín, mỏ vầy quấy sơn và các mảnh ván gỗ khớp mộng tương tự bàn vặn sơn ngày nay, minh chứng cho sự tồn tại sơ khởi của nghề.

    • Bậc Tổ nghề nghệ thuật sơn mài: Theo sử liệu và truyền ngôn, vào thời vua Lê Nhân Tông (1443), cụ Trần Lư (hiệu Trần Thượng Công) được tôn là bậc thầy đầu tiên của ngành nghề này. Học trò của cụ lập thành các phường thợ sơn, lan tỏa khắp đất nước. Những nghệ nhân bậc thầy được triều đình phong kiến thu nạp vào cung phục vụ, số khác lập thành các hiệp thợ do thợ cả đứng đầu, lưu diễn tại các đền đài, chùa chiền để tô đắp tượng Phật, sơn son thếp vàng đồ thờ, kiệu võng, hoặc chế tác hoành phi, câu đối, án thư, ngai thờ cho các gia tộc quyền quý.

    • Di sản tâm linh: Danh tiếng của ngành sơn gắn liền với địa danh như “sơn then Đình Bảng” (Kinh Bắc), hàng đồ nét Cát Đằng (Nam Hà), tráp quả chợ Bằng (Hà Đông), thúng khảo chợ Dầu (Nam Hà). Để tưởng nhớ Tổ nghề, đền thờ cụ Trần Thượng Công đã được môn đệ lập tại làng Bình Vọng, huyện Thường Tín (Hà Tây cũ).

    • Các tác phẩm điêu khắc độc bảo bằng gỗ hoặc đất đắp sơn son thếp vàng, cửa võng, hoành phi, câu đối từ thời Lý, Trần, Lê hiện còn lưu giữ tại nhiều danh thắng như: chùa Bút Tháp (tượng Phật Thiên thủ Thiên nhãn), chùa Phật Tích, chùa Đậu, chùa Tây Phương, chùa Tây Hồ, Văn Miếu, chùa Trấn Quốc, chùa Dâu… cùng các khí cụ sinh hoạt cung đình như hòm sắc, ống quyển, sập gối, đèn nến, thẻ bài.

III. Sự Chuyển Mình Sang Kỷ Nguyên Nghệ Thuật Sơn Mài hiện đại

Vào các thế kỷ XV – XVI, ngành sơn cổ truyền (sơn ta, sơn quang dầu) đã đạt trình độ kỹ thuật chế pha rất cao. Tuy nhiên, kỹ thuật cổ truyền vốn chỉ giới hạn trong quy trình khắt khe: cốt vóc trải qua các khâu hom, bó, thí, mài đá với nước để tạo nền phẳng nhẵn như sừng, sau đó mới sơn phủ lớp áo ngoài bằng sơn then đen tuyền, sơn son đỏ rực, thếp bạc phủ hoàn kim hoặc thếp vàng để trần. Bảng màu giai đoạn này bó hẹp trong các sắc đen, đỏ, vàng kim và bạc.

Khoảng những năm 1930 – 1931, các họa sĩ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã phối hợp cùng các nghệ nhân lão luyện – tiêu biểu là cụ Đinh Văn Thành (Đông Phù, Thanh Trì) – bắt đầu nghiên cứu cải tiến chất liệu. Bằng cách pha chế sơn chín, dùng vàng bạc quỳ rây nhỏ thành bột pha trộn vào sơn cánh gián (có bổ sung nhựa thông thay dầu trẩu), phối hợp gắn vỏ trứng, vỏ trai, xà cừ, họ đã tạo ra những bước ngoặt vĩ đại:

Kỹ thuật mài nước độc bản: Sau khi phủ lớp sơn quang cuối cùng lên toàn bộ bức vẽ, tấm tranh được đem mài với nước bằng đá mài hoặc than mài. Dưới lực ma sát, các lớp sơn mòn dần, làm hiển lộ các họa tiết ẩn sâu một cách kỳ diệu. Từ đây, danh từ “Sơn mài” chính thức ra đời.

Các nghệ sĩ thế hệ đầu đã tiên phong khai phá chất liệu này qua nhiều tác phẩm thực nghiệm:

  • Trần Văn Cẩn: Thể hiện tranh trang trí nhỏ với núi đen bóng, trời thếp vàng, dòng nước bạc và cỏ cây màu son tươi; nghiên cứu chuyển sắc độ mịn màng qua hình nắp hộp “Thêu lọng” rắc vàng vụn tả tua chỉ ngũ sắc. Tác phẩm “Mùa đông sắp đến” (1960).

  • Nguyễn Gia Trí: Khai thác bờ “Cửa Tùng” với nền trời và nước màu sơn cánh gián pha son tươi, rắc bạc trên rặng phi lao đen; bình phong “Cảnh làng quê” với gam vàng vụn rắc patine; bức đại họa “Thiếu nữ bên hoa phù dung” kết hợp nền vỏ trứng và nét khắc lõm thếp vàng.

  • Nguyễn Tường Lân: Sử dụng kỹ thuật gắn vỏ trứng gà, trứng vịt tạo mảng trắng hài hòa trên nền son trai đỏ tươi của bộ bình phong “Ngày xuân trẩy hội”.

  • Hoàng Tích Chù & Nguyễn Tiến Chung: Dùng vỏ trứng tả chi tiết hoa văn áo thiếu nữ, đắp nổi nét son và thếp vàng patine cho khóm lúa trĩu bông.

  • Lê Quốc Lộc: Tận dụng độ trầm của sơn cánh gián phủ để diễn tả không gian thâm nghiêm, huyền ảo của ánh nến trong cung thờ qua tác phẩm “Hội chùa”. Tác phẩm “Giữ lấy hòa bình” (1960).

  • Phạm Hậu: Thành công trong việc phủ sơn cánh gián nhìn xuyên thấu qua bức “Cá vàng”, cùng các tác phẩm kết hợp vẽ chìm đắp nổi như “Sài Sơn”, “Hươu nai”.

  • Trần Quang Trân: Khẳng định tài năng với bức bình phong “Bụi tre bóng nước”.

  • Phạm Đức Cường: Tác phẩm “Ánh trăng bên bờ ao làng” tả bóng chuối lóng lánh; cảnh “Sóc Sơn” đắp nổi và tác phẩm “Quán ngói dưới gốc đa” sử dụng chất liệu thép, mo cạo và vỏ trứng tả tường đá ong.

  • Nguyễn Khang: Kết hợp vẽ chìm khắc nổi sâu trên nền đen bóng, nạm xà cừ vỏ trai chữ Thọ vào áo gấm trong bức “Vinh quy”.

  • Nguyễn Đỗ Cung: Tiên phong thể loại sơn khắc với bức bình phong “Cảnh nông thôn”.

  • Nguyễn Văn Tỵ: Đột phá đưa sắc xanh lam vào tranh qua bức bình phong “Cảnh Thác Bờ” bằng nét khắc chìm thếp vàng.

IV. Giai Đoạn Phát Triển Hiện Đại Và Hướng Đi Tương Lai

Từ sau Cách mạng Tháng Tám (1945) và nhất là khi hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954), nghệ thuật sơn mài Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới. Dù gặp nhiều khó khăn về nguyên vật liệu trong kháng chiến, các họa sĩ như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tư Nghiêm, Sỹ Ngọc, Phạm Văn Đôn… vẫn kiên trì sáng tác, tìm ra những hòa sắc phong phú phản ánh hiện thực đời sống, chiến đấu và xây dựng Tổ quốc. Nhiều tác phẩm đỉnh cao đã được tập hợp trong tuyển tập “Tranh sơn mài Việt Nam” (NXB Ngoại văn, 1977).

Sơn mài hiện đại ngày nay đã làm chủ được các kỹ thuật miêu tả ánh sáng, không gian và chất liệu nhờ bổ sung các bảng màu mới như màu xanh ve, vàng cô-rôm, sắc biếc cánh cam, đỏ mặt trời với muôn vàn sắc độ độc đáo.

Phương hướng phát triển ngành nghề sơn mài:

  1. Hiện đại hóa quy trình sản xuất: Các phương thức chế tác cốt vóc và cốt mộc hiện vẫn mang nặng tính thủ công dẫn đến giá thành và tiêu chuẩn chưa ổn định. Bước đầu, một số cơ sở đã áp dụng cơ giới hoặc nửa cơ giới vào khâu làm bán thành phẩm, mài sơn, đánh bóng và chế biến sơn chín. Việc ứng dụng công nghệ cần được nghiên cứu rộng rãi để tiến tới sản xuất lớn và công nghiệp hóa.

  2. Bảo tồn tính nguyên bản: Quá trình công nghiệp hóa đòi hỏi sự thận trọng nghiêm ngặt, tuyệt đối tránh xu hướng chạy theo lợi nhuận đoản kỳ mà xem nhẹ kỹ thuật truyền thống, làm mai một đi tính chất độc bản và linh thiêng mang tầm bản sắc dân tộc.

Nền nghệ thuật sơn mài Việt Nam với tiềm năng biểu hiện vô hạn đòi hỏi các thế hệ nghệ sĩ và nghệ nhân phải không ngừng dày công nghiên cứu, sáng tạo, tiếp tục làm phong phú bảng màu dân tộc, đưa di sản sơn mài khẳng định vị thế xứng đáng trong kho tàng mỹ thuật thế giới.