Nghệ thuật sập thờ cổ truyền Việt Nam

Nghệ thuật sập thờ cổ truyền Việt Nam trong không gian tâm linh của người Việt cổ, đồ thờ tự không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo mà còn là nơi kết tinh tinh hoa mỹ thuật của từng thời kỳ. Trong số đó, sập thờ là một loại hình cổ vật đặc thù, phản ánh sinh động tư duy thẩm mỹ và kỹ nghệ chế tác của các nghệ nhân xưa.

1. Sự xuất hiện sớm nhất của sập thờ vào thế kỷ XVII

Đối với các giai đoạn từ thế kỷ XVI trở về trước, giới nghiên cứu hầu như chưa tìm thấy bất kỳ dấu tích hay hiện vật nào về loại hình này. Chiếc sập thờ được xác định có niên đại khởi đầu sớm nhất hiện nay thuộc về giữa thế kỷ XVII, được phát hiện tại không gian kiến trúc của đình Phú Thượng (quận Tây Hồ, Hà Nội).

Về quy cách kỹ thuật, hiện vật này sở hữu kích thước lớn hơn chiếc giường đôi thông thường một chút, với chiều cao khiêm tốn khoảng 40 cm. Bố cục tổng thể tương đối đơn giản: mặt sập được lát ván sơn then, xung quanh bao bọc kín bằng các tấm ván bưng. Điểm nhấn nghệ thuật giá trị nhất ở tác phẩm này chính là hệ thống hoa văn chạm nổi. Các hình tượng rồng, phượng cùng những dải đao mác được đục chạm vô cùng sắc sảo, dứt khoát, trở thành một khuôn mẫu chuẩn mực cho nền nghệ thuật đương thời.

2. Tuyệt tác long sàng đá tại đền vua Đinh (Hoa Lư – Ninh Bình)

Một tiêu bản điển hình khác sở hữu quy mô tương đương những chiếc sập gỗ thời hiện đại được chế tác dưới triều vua Chính Hòa (1680-1705). Hiện vật này làm hoàn toàn bằng chất liệu đá, tọa lạc ngay trước cửa điện thờ chính của đền vua Đinh (Hoa Lư, Ninh Bình). Nhằm gia tăng vẻ uy nghiêm cho nơi ngự trị của bậc đế vương, những người thợ xưa đã tạc thêm hai tượng rồng chầu bó dọc hai cạnh bên, tạo thành thế tay ngai vững chãi.

Sập đá này còn được biết đến với tên gọi vân sàng hoặc long sàng. Tâm điểm trên mặt sập là hình ảnh một con rồng kích thước lớn với phần đầu và thân uốn lượn xung quanh. Đồ án rồng được sắp xếp tương đối chặt chẽ và mang tính quy phạm, song vẫn có những chi tiết phá cách độc đáo. Cụ thể, các móng chân rồng biến hóa linh hoạt: có lúc mang dáng dấp của vuốt chim ưng, có khi lại tương đồng với bàn tay người, thậm chí có chi sở hữu tới 6 ngón. Giới nghiên cứu cho rằng, hình tượng rồng ở đây đại diện cho bầu trời, mây mưa và là vị chủ tể điều tiết nguồn nước, cầu mong sự phồn thực cho vạn vật.

Hài hòa với hình tượng trung tâm là đường diềm bao quanh rất tinh xảo. Bốn phía sập được chạm nổi hàng loạt biểu tượng gắn liền với môi trường nước như: cặp rồng chầu vào cụm vân xoắn ốc tỏa đao mác, cùng các loài sinh vật như cá, tôm, chuột nước và chim thiên nga đầy sống động. Mặt đứng phía trước của sập tạo ấn tượng điêu khắc mạnh mẽ nhờ đường diềm lá sòi trong tư thế kênh bong, kết hợp các ô chữ nhật chạm nổi linh thú đang chạy hướng về đóa hoa cúc ở trung tâm. Ngược lại, mặt sau thân sập lại giản lược hơn khi chỉ đục chạm một hàng hoa chanh bốn cánh đơn.

Về cấu trúc hình khối, phần thân sập đền vua Đinh có tỷ lệ thấp hơn phần đế. Phần dưới cùng được mở rộng ra ngoài theo lối giật cấp vuông thành sắc cạnh, tiếp nối bằng một mặt cong kiểu lợi chậu. Ở phía trước, các nét đục khắc tập trung vào họa tiết vân xoắn và đao mác xung quanh một bông hoa cách điệu tại chính tâm. Tuy nhiên, nét chạm ở phần bụng được nhấn khá sâu, mô phỏng rõ rệt phom dáng chân quỳ dạ cá. Mặt sau cũng áp dụng kết cấu chân quỳ dạ cá này nhưng đường nét nông hơn và thiên về trang trí bề mặt.

Do tổng chiều cao của sập chỉ đạt xấp xỉ 40cm, người xưa đã đặt toàn bộ công trình trên một nền bó vỉa bằng đá hộc nhằm tôn lên vị thế trang nghiêm. Đây có thể xem là một bảo vật cốt lõi trong ý thức thờ tự, do đó phần thớt sập phía trên được đẽo gọt từ đá nguyên khối, riêng phần chân đế bên dưới áp dụng kỹ thuật lắp ghép ghép nối các cấu kiện.

3. Sự kế thừa và biến đổi kiến trúc trong thế kỷ XVIII – XX

Bước sang thế kỷ XVIII, trước không gian nghi môn ngoại của đền Đinh, một chiếc sập đá tương tự cũng được tạo tác. Tác phẩm này kế thừa trọn vẹn từ bố cục, hình tượng rồng trên mặt sập, các ô trang trí linh vật ở thân cho đến cấu trúc chân quỳ dạ cá ở bốn mặt đế. Tại bốn góc sập là hình ảnh bốn thao thiết, phối hợp cùng hình tượng mặt hổ phù hung tợn ở vị trí chính giữa.

Đến thế kỷ XIX, để tạo sự đối xứng chan hòa với đền vua Đinh, người ta cũng tiến hành chế tác các sập đá ở hai vị trí tương ứng tại đền vua Lê. Tuy nhiên, những hiện vật thời kỳ này có dáng khá thấp và không được đánh giá cao về mặt giá trị mỹ thuật.

Giai đoạn thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX chứng kiến sự xuất hiện của sập đá tại nhiều di tích khắp vùng đất Bắc nhằm đáp ứng nhu cầu tế lễ. Tiêu biểu là chiếc sập đá quy mô lớn đặt dọc trên khoảng sân trước của chùa Bối Khê (Thanh Oai, Hà Tây). Sập sở hữu chiều dài vượt quá 4m và chiều rộng gần 2m, toàn thân phủ kín các đồ án linh vật được chạm trổ tỉ mỉ. Dẫu vậy, tác phẩm này vẫn chưa thể vươn tới tầm vóc của một hiện vật chuẩn mực về phương diện nghệ thuật.

Cũng trong thời gian này, tại không gian cung cấm của các phủ, điện lớn (tiêu biểu như phủ Giầy tại Nam Định), người ta bắt đầu làm những chiếc sập bằng chất liệu gỗ để thay thế cho hệ thống bệ tượng thờ riêng lẻ, hoặc nhằm mục đích bày biện được nhiều đồ thờ, đồ lễ trên cùng một mặt phẳng. Kích thước cao thấp của sập gỗ không cố định mà phụ thuộc hoàn toàn vào việc không gian đó có sẵn bệ xây hay không. Đa số sập gỗ được hoàn thiện bằng kỹ thuật sơn son thếp vàng (gần như phủ toàn bộ lớp vàng kim) với các chủ đề quen thuộc như tứ linh, hổ phù, thao thiết, kết hợp hoa lá cách điệu cùng các hiện tượng tự nhiên.

Dù được quan niệm là vật dụng dành riêng cho thần linh, sập thờ đồng thời mang ý nghĩa tôn vinh vị thế, hoàn toàn tương thích với hệ ý thức tôn sùng của con người thời bấy giờ (ở đây chúng tôi chưa đề cập đến hệ thống sập thờ thuộc dòng nghệ thuật cung đình, ví dụ như các hiện vật tại Thế Miếu – Huế).