Lối tạc tượng Phật giáo thời Lê – Trịnh thế kỷ XVIII người trong nghề đục đẽo chúng tôi thường bảo nhau, mỗi thời đại đi qua đều để lại dấu ấn rõ ràng trên thớ gỗ, nét đục. Cái thời thế kỷ XVIII không để lại cho chúng ta nhiều tượng nổi tiếng như ở thế kỷ XVII nữa. Hình thức tạo tượng theo phong cách cũ bị thay thế dần. Lúc này, người ta ít tìm thấy ngôi chùa và đền được dựng mới dưới sự đóng góp của nhân dân làng xã. Những pho tượng mang tính chất truyền thống cứ hiếm dần đi.
Cho tới nay, ngoài một hai pho tượng thuộc hệ thống Tứ Pháp được làm theo kiểu vai nở, mặt trái soan, vai rộng, bụng thon, thì hầu như các tượng khác đều theo kiểu giữa thế kỷ XVII, hồi xuất hiện những ngôi chùa lớn dưới sự bảo trợ của quý tộc nhà Trịnh. Tượng đã mang hình thức bụng to, quần áo nhiều lớp, mặt có tính chất tượng trưng chứ không còn giữ nét chân dung khoáng đạt như buổi trước.
Bối Cảnh Lịch Sử Và Lối Tạo Tượng Thời Trịnh Cương, Trịnh Giang
Điểm lại đôi nét về bối cảnh lịch sử vào đời Trịnh Cương và Trịnh Giang mới thấy hết cái khó của người làm nghề khi ấy. Tầng lớp thống trị đã cách biệt hẳn với dân chúng, hệ tư tưởng xã hội khủng hoảng tới mức chưa từng thấy trong lịch sử. Dân chúng lâm vào tình trạng đói khổ, nhưng triều đình vẫn ra sức xây dựng cung điện, phủ đệ để phục vụ cho cuộc sống sa đọa.
Chúa Trịnh Giang thậm chí đã ra lệnh cấm dân dùng gỗ đá dài quá ba thước để làm tượng. Cái lệnh cấm đoán này thực tế không hẳn đã được tuân thủ hoàn toàn. Song, kinh tế tập thể của làng xã lúc bấy giờ cũng chẳng cho phép người dân tự lực tạo được những tác phẩm nghệ thuật của riêng mình. Ngược lại, khá nhiều tượng của đương thời lại được hình thành dưới sự bảo trợ của triều đình và nhà giàu.
Trong số đó, các tượng chùa, tượng đền, tượng mồ là các loại đáng quan tâm hơn cả. Thực ra tượng chùa thời này không nhiều, lác đác đây đó vẫn thấy nhiều loại được xen vào Phật điện, như tượng Tam Thế và tượng A Di Đà ở chùa Tây Phương (Hà Tây), chùa Thanh Nhàn (Hà Nội). Hay như tượng Tuyết Sơn (Thích Ca) với bộ mặt đau khổ và thân hình gầy guộc ở chùa Nành (Gia Lâm – Hà Nội), chùa Né Châu (thị xã Hưng Yên), chùa Mía (Hà Tây), chùa Keo (Thái Bình). Rồi tượng Kim Cương (chùa Mía), tượng Quan Âm chùa Nga Mi (Hai Bà – Hà Nội) cùng các tượng hậu Phật. Đặc biệt, giai đoạn này xuất hiện tượng Di Lặc và nhiều tượng Quan Âm Tống Tử.
Đặc Điểm Tạo Hình Của Tượng Phật Giáo Thế Kỷ XVIII
Suy cho cùng, về hình thức, các loại tượng như kể trên vẫn giữ được nhiều nét kế thừa từ loại tượng ở giữa thế kỷ XVII. Thế giới Phật giáo vốn khác với thế giới của các ngôi đền, mộ… nên tượng Phật và Bồ Tát dù ở trường hợp nào trong thế kỷ XVIII vẫn giữ được nét đoan trang, nghiêm chỉnh, êm ả và gần gũi với đời.
Nhưng, nếu đặt hai pho tượng của hai thời kỳ cạnh nhau để đối chiếu, tượng thời này phần nào đã được đơn giản đi trong một số chi tiết trang trí, chủ yếu chỉ được chạm nổi hoặc chìm vừa phải. Ngay cả thành mũ của tượng cũng không còn các hoa hay tượng Phật nhỏ nổi khối lên nữa. Nhiều khi mũ cũng bỏ mà thay bằng một vành khăn trơn bó quanh đầu, tóc cuộn ngược lên đỉnh rồi buộc đơn sơ bằng dải lụa như ở chùa Thanh Nhàn (Hà Nội), hoặc tết lại thành vòng tròn Thái Cực chia rõ hai phần Âm Dương xoắn lấy nhau như ở chùa Thiền Quang (quận Hai Bà – Hà Nội).
Mặt tượng ở nhiều pho được làm nở má hơn, mang tính tượng trưng nhiều và mất dần tính chân dung. Chuỗi anh lạc đeo ở cổ cũng mất dần, bụng có phần to ra, áo tuy vẫn nhiều nếp nhưng thiếu đi vẻ mềm mại, các ngón tay và ngón chân kém chau chuốt hơn trước. Bệ tượng với cánh sen ốp sát vào nhau, mũi ít vênh ra, lòng cánh thường để trơn hoặc với hoa văn đã mang phong cách khác hẳn. Bệ dưới chỉ giữ lại số ít biểu tượng cầu phồn thực cổ truyền, thay vào đó là một số hoa cỏ và biểu tượng mới, nặng sự tượng trưng và phần nào chịu ảnh hưởng Trung Hoa.
Nghệ Thuật Tạc Tượng Di Lặc
Chúng ta cần chú ý tới tượng Di Lặc và Quan Âm Tống Tử, cả hai vị này đều mang tính chất của chúa cứu thế. Trong đó, Di Lặc là Phật của tương lai gần đã được lịch sử nhắc tới từ khá sớm. Tượng Di Lặc chùa Thổ Hà cũng như nhiều tượng Di Lặc cùng thời khác, được thể hiện theo hình một hòa thượng, mặt mũi phương phi, đầu trọc, tai lớn dày, miệng cười tự nhiên, mặc áo hở ngực và chiếc bụng lớn tròn.
Nhìn chung, tượng có một hình thức ngộ nghĩnh, đẹp béo mà sinh động. Các khối nổi trên tượng căng đầy một cách no đủ, đã lột tả được đặc tính của Di Lặc và tạo cho pho tượng một giá trị điêu khắc cao. Di Lặc cũng còn được gọi là Di Lặc Bồ Tát, là hiện thân của hỷ xả, đã diệt được lục tặc (mọi dục vọng do giác quan gây ra). Lấy “Hỷ Xả” làm chánh yếu nên lúc nào miệng Di Lặc cũng cười hỉ hả, bởi do vui mà xả, cũng do xả (bố thí) mà vui.
Ngài là hiện thân của hạnh phúc, mà nguồn hạnh phúc đối với cư dân nông nghiệp chính là sự no đủ, yên lành. Cho nên Người được thể hiện béo tốt tự nhiên, tự tại… Tượng Di Lặc là sản phẩm của lòng người đương thời, người thợ chúng tôi khi tạc đã dồn hết tâm ý để thể hiện, nên pho tượng không mang nét khô cứng như nhiều pho khác cùng thời.
Tượng Quan Âm Tống Tử Và Cốt Truyện Dân Dã Việt
Tượng Quan Âm Tống Tử là loại tượng gắn với một Phật điện đã đông đảo, thường được đặt tại một bàn thờ riêng ở góc trong bên phải bàn thờ chính, dưới hình thức một bà mẹ bế con. Quan Âm Tống Tử ở Việt Nam trở nên phổ biến có lẽ sau tích về Quan Âm Nam Hải độ một thế kỷ, nên sự xuất hiện của tượng cũng muộn hơn, chỉ có từ thế kỷ XVII và phổ biến hơn vào thế kỷ XVIII.
Tượng mang phong cách tạo tác như nhiều tượng cùng thời khác. Thiên quan ốp sát đầu với các hoa cúc nổi vừa phải. Mặt nữ tròn, hiền hậu, nhiều nét tượng trưng, áo cà sa nhiều lớp rành mạch chảy xuôi ở hai bên để lộ áo trong và hầu bao. Ghế ngồi được tạo gồ ghề mang hình thức của núi, để tượng còn có tính chất là Quan Âm Tọa Sơn.
Đôi khi, ngay bên cạnh, ngang vai Quan Âm, người ta chạm một con vẹt, mà theo tích đó là Thiện Sĩ hóa thân, chồng của Thị Kính khi Người chưa đi tu. Về mặt tạo hình, người trong nghề mới chỉ thấy một con vẹt trong bố cục này được làm vào thế kỷ XVII ở chùa Quảng Bá (Hà Nội). Còn ở đây, vẹt thường được ghép thêm vào từ thế kỷ XIX như để hoàn chỉnh một cốt truyện bằng điêu khắc, điều đó phần nào tạo nên sự rườm rà, làm nhẹ đi tính khái quát của tượng.
Quan Âm Tống Tử được nhân dân ta tin là một hóa thân của Quan Âm Bồ Tát ở hoàn cảnh nước Việt. Dưới dạng này, Người mưu tìm sự cứu khổ cứu nạn trong một xã hội bị tha hóa, đạo đức bị đảo lộn. Trong tích truyện đã vạch rõ bộ mặt xã hội Việt ở thế kỷ XVIII và XIX với đầy sự gian dối nhũng loạn, và Người hiện lên như một cứu tinh của chúng sinh có thiện tâm.
