Chất liệu chính dùng trong ngành nghề sơn mài là chất nhựa chích lấy ở vỏ một loại cây tên gọi là cây sơn – ở nước ta cây sơn này được trồng nhiều trên những triền đồi đất vùng trung du Bắc Bộ.
Nhựa sơn có nhiều đặc tính độc đáo nên đã sớm được sử dụng từ thời xa xưa vào các việc thông thường trong đời sống hàng ngày. Do có độ dính cao và rất bền chắc, nên nhựa sơn được dùng như một thứ keo để hàn gắn gỗ, tre, nứa, ghép mộng gỗ, chắp nối gỗ, gắn thuyền, trát bó mát đan tre nứa, hàng thùng mủng dùng đựng nước. Do chịu được độ ẩm cao, người ta dùng nhựa sơn quét lên đồ đạc bằng gỗ như bàn ghế, tủ tường, rương hòm đựng quần áo, vừa bóng đẹp lại vừa tăng độ bền cho gỗ.
Vào khoảng thế kỷ thứ XVI, một số thương gia phương Tây sang buôn bán ở vùng Á Đông đã biết du nhập chất nhựa sơn này về châu Âu để sử dụng vào việc gắn đàn vĩ cầm nổi tiếng STRADIVARIUS. Người Pháp khi ở Việt Nam đã thí nghiệm dùng có kết quả chất nhựa sơn ta vào việc sơn cánh máy bay lợp bằng vải mà hiện giờ tại Bảo tàng kỹ thuật ở Paris (Pháp) còn trưng bày hiện vật máy bay đó. Ngoài ra, chất nhựa sơn còn được sử dụng làm thứ véc-ni chống gỉ sét, làm chất cách điện.1
Qua các phương pháp chế biến cổ truyền và phong phú, chất nhựa sơn sống được tạo thành nhiều loại sơn khác nhau, gọi chung là sơn chín. Các đặc tính độc đáo và quyến rũ của chất liệu cũng đã đưa người thợ có bàn tay khéo léo, có óc sáng tạo với con mắt thẩm mỹ, sớm biết sử dụng làm ra các mặt hàng mỹ nghệ duyên dáng, cũng như các đồ thờ tự, phục vụ cho tôn giáo, chủ yếu là đạo Phật.
🌎 Nguồn gốc và Bậc thầy Việt Nam
Có ý kiến cho rằng người Nhật Bản đã sớm biết làm nghề sơn từ 300 năm trước công nguyên, có người lại cho là nguồn gốc ở Trung Quốc. Ở7 Nhật Bản, các sản8 phẩm hàng sơn thịnh hành nhất là trong thời Toku-Gâm, vào thế kỷ thứ XVII. Ở Trung Quốc, nghề sơn phát triển dưới thời Minh (1368 – 1644) và thời Càn Long (1736 – 1796).
Còn ở Việt Nam, vào thời vua Lê Nhân Tông (1443) có cụ Trần Lư, hiệu là Trần Thượng Công được tôn là bậc thầy đầu tiên về ngành nghề này. Các học trò của cụ lập thành từng phường thợ sơn, tỏa đi làm nghề khắp nơi. Các nhóm thợ này tự tìm đến các đền đài, chùa chiền tô đắp tượng phật, sơn son thếp vàng các đồ thờ… hoặc là tìm đến các gia đình giàu có để nhận làm các bức hoành phi, câu đối, bàn kỷ, ngai thờ.
Để tưởng nhớ công ơn của ông thầy dạy nghề đầu tiên, các môn đệ đã lập đền thờ cụ Trần Thượng Công ở làng Bình Vọng, nay thuộc huyện Thường Tín (Hà Tây).
Ngành khảo cổ học khi khai quật khu di chỉ Việt Khê, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng đã tìm thấy một số bát sơn, hộp sơn hình chữ nhật làm bằng gỗ có cơ sơn trong đỏ, ngoài đen. Ngoài ra, ta còn giữ được khá nhiều tác phẩm nghệ thuật điêu khắc có tô sơn như tượng Phật, đồ thờ, cửa võng… ở các chùa chiền, đền đài dưới thời Lý, Trần, Lê.
Phải nói rằng trong các triều đại mà đạo Phật đang độ hưng thịnh, ngành sơn lúc bấy giờ chắc chắn là được trọng vọng và phát triển mạnh.
🎨 Ngành nghề Hỗ trợ và Sự Ra đời của Sơn Mài
Bên cạnh ngành nghề sơn, ta còn có: phường thợ chạm (chạm nổi, chạm lộng) ở phố Hàng Đàn (Hà Nội), thành phố Nam Định, các phường thợ tạc tượng, các phường thợ khảm ở làng Chuồn, làng Tre (Bối Khê, Phú Xuyên), phường Kiêu Kỵ (Gia Lâm) có nghề đập dát vàng bạc, và phường Hàng Gai (Hà Nội) có nghề chế biến các loại bột sơn.
Thật vậy, ngành nghề sơn quả là một nghề cổ truyền của nước ta, và vào các thế kỷ XV – XVI đã được phát triển huy hoàng với một trình độ kỹ thuật khá cao và phong phú, nhất là trong các kỹ thuật pha chế sơn. Ấy cũng do sự hấp dẫn của chất liệu độc đáo, vừa bền lại vừa đẹp, lộng lẫy vàng son, huỳnh quang rực rỡ, đã thu hút các họa sĩ say mê tìm đến nó.
Vào khoảng những năm 1930 – 1931, các họa sĩ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương bắt đầu làm quen với chất liệu sơn có sự cộng tác của các nghệ nhân, mà một trong số đó có cụ Đinh Văn Thành, người quê Đồng Phú, huyện Thanh Trì.
Cứ theo kỹ thuật cổ truyền, màu sắc ban đầu chỉ hạn chế trong các màu đen, đỏ, vàng kim hoặc bạc phủ hoằn kim.
Do quá trình tìm tòi thử nghiệm, các họa sĩ đã phát triển kỹ thuật:
-
Pha chế các loại sơn chín và sử dụng các chất liệu sơn (sơn trai, sơn tươi, sơn nhì).
-
Sử dụng vàng bạc quý rây nhỏ thành bột, pha trộn vào sơn cánh gián được pha nhựa thông thay dầu trẩu.
-
Sử dụng tài tình vỏ trứng, vỏ trai tạo được nhiều hòa sắc trắng và ánh sắc muôn màu của xà cừ.
-
Kết hợp các kỹ thuật tô vẽ, tô nền sơn phủ trước sau rồi đem mài với nước.
Dưới sự ma sát của viên đá mài hoặc miếng than mài, các lớp sơn được bào mòn mỏng dần và các họa tiết hiện lên một cách kỳ lạ.
Bước ngoặt này đã mở đầu cho ngành nghề sơn cổ truyền chuyển sang một kỷ nguyên mới cho nền nghệ thuật sơn mài của Việt Nam. Danh từ sơn mài được đặt ra từ đó để khỏi lẫn với lối làm sơn cổ truyền thường được gọi là sơn ta, sơn quang dầu.
🖼️ Tác phẩm Tiêu biểu Ban đầu (1930-1931)
Tuy đã có nhiều tìm tòi đáng phấn khởi, trong những năm đầu, các kỹ thuật làm màu sắc còn nhiều hạn chế, bó hẹp trong phạm vi các sản phẩm mỹ nghệ với các họa tiết màu đơn giản có tính chất trang trí đơn thuần. Để minh họa rõ nét quá trình tìm tòi, ta có thể kể một số tác phẩm ban đầu:
-
Trần Văn Cẩn thể hiện một bức tranh trang trí cỡ nhỏ miêu tả ngọn núi đá với ngọn lúa lăng sừng sững trên nền trời thếp vàng, có một giòng nước bạc lượn dưới chân núi, hai bên bờ nước là cỏ cây màu sơn tươi. Ông còn thể nghiệm các kỹ thuật muốn chuyển sắc nhẹ nhàng các mảng màu nền trong hình nấp hộp “Thêu lọng” thể hiện các găm vàng vụn rắc đậm nhạt để tả chất và hình các kiểu lọng quan ngày xưa có các đường chỉ thêu ngũ sắc, những tua chỉ rực rỡ.
-
Nguyễn Gia Trí thể hiện một bộ bình phong Góc Cửa Tùng với nền trời đỏ, nước đỏ, màu của sơn cánh gián pha sơn tươi. Ông cũng thể hiện một bộ bình phong cỡ trung bình “Cảnh làng quê” trên nền sơn đen tuyền bóng lộn với ngọn cau cận cảnh thể hiện găm vàng vụn rắc.
-
Áp dụng kỹ thuật gắn vỏ trứng, Nguyễn Tường Lân thể hiện một bộ bình phong cỡ $80 \times 160$ chia làm 6 cánh lấy đề tài “Ngày xuân trẩy hội”. Toàn bộ nền là màu sơn trai đỏ tươi, họa tiết được gắn nền đồng màu phẳng của vỏ trứng gà, trứng vịt.
-
Hoàng Tích Chù và Nguyễn Tiến Chung dùng vỏ trứng tả những chi tiết hoa in trên áo quần của hai thiếu nữ đang đi đền bơ ruộng.
-
Lê Quốc Lộc đã khéo sử dụng sơn cánh gián phủ trong màu để tả được cảnh tranh tối tranh sáng trong cung thờ ở chùa, hình như qua ánh đèn nến trong cung tối lấp ló nào tượng, ngựa, đồ thờ trông rất sinh động. Đó là bức “Hội chùa”.
-
Phạm Hậu đã thành công trong bức tranh “Cá vàng” và Trần Quang Trân trong bức bình phong “Bụi tre bóng nước”, dùng sơn cánh gián để phủ toàn bộ tranh, các họa tiết đều được nhìn xuyên qua lớp sơn phủ.
-
Phạm Đức Cường có “Ánh trăng bên bờ ao làng”, tả bóng chuối phản chiếu xuống mặt nước lóng lánh ánh trăng mờ tỏ.
-
Nguyễn Khang trong bức “Vinh quy” vừa vẽ chim vừa khắc nổi. Các họa tiết được khắc các đường nét chìm sâu xuống cho phản tách hẳn với một màu nền đen bóng. Áo gấm của ông nghè được nạm xà cừ vỏ trai vào các hoa chữ thọ trông rất lộng lẫy.
