Lễ hội Tháp Bà Nha Trang: Sự kết hợp tâm linh sâu sắc giữa hai nền văn hóa

  1. Đối tượng suy tôn: Nữ thần Thiên Y A Na (Thánh Mẫu Ana – người mẹ xứ sở có công dạy dân cày cấy, dệt vải, chăn nuôi).

  2. Địa điểm: Tháp Bà Po Nagar, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

  3. Thời gian: Từ ngày 20 đến ngày 23 tháng Ba âm lịch hàng năm (Chính hội là ngày 23 tháng Ba).

  4. Đặc điểm nổi bật: Lễ “múa bóng dâng Bà” — một điệu múa cung đình Chăm Pa cổ truyền lại và đã được cải biên, mang đậm nét văn hóa tâm linh đặc sắc.

Nằm trên mảnh đất Khánh Hòa đầy nắng gió, Lễ hội Tháp Bà Nha Trang là một trong những ngày hội truyền thống có quy mô lớn và mang giá trị văn hóa độc đáo bậc nhất tại khu vực Nam Trung Bộ. Đây là dịp để nhân dân tỏ lòng sùng kính đối với Nữ Thần Thiên Y A Na, vị Mẹ xứ sở thiêng liêng.

Tổng quan về di tích và đối tượng suy tôn

Sự kiện tâm linh này diễn ra tại khu di tích Tháp Bà, tọa lạc trên một ngọn đồi cao chừng 30 mét thuộc làng Cù Lao, nằm ở khu vực phía bắc thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Lịch sử ghi nhận quần thể kiến trúc này nguyên là thánh đô cũ của Vương quốc Chăm-pa (vùng đất Kaut Hara xưa), nơi thờ phụng nữ thần Mẹ xứ sở của thị tộc Cau. Theo tiếng Chăm, danh xưng đầy đủ của Ngài là Pô Yang Inô Nagar Kaut Hara (trong đó Pô có nghĩa là Ngài; Yang là thần Trời; Inô nghĩa là bà mẹ đã mất; Nagar là xứ sở, đất nước). Khi người Việt đến định cư, qua quá trình giao thoa và tiếp biến văn hóa, danh hiệu này đã được phiên âm và chuyển nghĩa sinh động thành Thiên Y A Na Thánh Mẫu.

Khu di tích bao gồm 4 ngôi tháp Chăm cổ kính được xây dựng rải rác từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ XIII. Địa danh này không chỉ là đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc mà còn chứa đựng những giá trị sâu sắc về mặt khảo cổ học, lịch sử và dân tộc học.

Kiệt tác điêu khắc và biểu tượng vạn năng trong tháp chính

Giữa lòng ngôi tháp chủ cao 22,40 mét là nơi ngự trị của pho tượng Nữ thần Mẹ xứ sở (gọi tắt là Pô Nagar). Tác phẩm được tạc từ một khối đá sa thạch nguyên khối vào khoảng thế kỷ thứ XI, khắc họa hình ảnh Bà Mẹ đang ngồi xếp bằng trên tòa sen thanh tịnh. Toàn bộ pho tượng kết hợp cùng bệ thờ có tổng chiều cao là 2,60 mét.

Điểm đặc biệt của pho tượng nằm ở hệ thống các cánh tay biểu thị quyền năng tối cao. Bên cạnh hai cánh tay chính đặt trên đầu gối (với bàn tay trái mở ra che chở, ban phát và bàn tay phải dựng đứng hướng lòng bàn tay ra trước để trấn an), phía sau bức phù điêu hình lá bồ đề gắn liền với tượng còn có thêm 8 cánh tay phụ dang rộng theo hình rẻ quạt sinh động. Khi nhìn trực diện, thần tượng xuất hiện với tổng cộng 10 cánh tay, mỗi tay phụ nắm giữ một pháp bảo biểu trưng cho trí tuệ và uy quyền bất diệt bao gồm: đoản kiếm, mũi tên, vòng mặt trời Sakra, mũi lao, chuông nhỏ, lưỡi giáo Ankusa, tù và chế tác bằng vỏ ốc và cánh cung.

Khối tượng linh thiêng này được đặt vững chãi trên một bệ yôni khổng lồ có kích thước mỗi cạnh 150 cm, được ghép từ nhiều tầng đá khít khao tạo cảm giác như một khối nguyên vẹn. Riêng phần thân tượng cao 150 cm, giữ nguyên những nét đặc trưng của nhân chủng học và tín ngưỡng phồn thực với phần ngực để trần, hai bầu vú căng tròn cùng các nếp nhăn ở vùng bụng minh chứng cho việc sinh nở, phía dưới khoác một chiếc xà rông truyền thống. Những đường nét chạm khắc tinh tế, uyển chuyển mang lại một cảm giác vừa tôn nghiêm, kỳ vĩ nhưng cũng vô cùng gần gũi, tràn đầy sinh lực.

Nguồn gốc lịch sử và truyền thuyết Thiên Y A Na Thánh Mẫu

Trong quá khứ, người Chăm thường cử hành các nghi thức dâng cúng Bà Pô Nagar vào ba đợt trong năm: tháng 3, tháng 7 và tháng chạp âm lịch. Trong đó, kỳ lễ vào tháng 3 luôn là ngày hội lớn nhất, kéo dài từ ngày 20 đến ngày 23. Lễ vật khi ấy chủ yếu là các loại quả, hoa tươi (phổ biến nhất là hoa điệp) và trầm hương tự nhiên tuyệt đối không sử dụng nhang cây. Vật hiến tế chính là dê hoặc đôi khi là gà. Nội dung các bài tụng ca do tư tế diễn xướng mang ý nghĩa ca ngợi công lao dựng xây bờ cõi, tạo ra muôn vật và truyền dạy văn hóa của Nữ thần, đồng thời cầu mong sự bình an, sức khỏe và vụ mùa bội thu. Bản dịch bài tụng có đoạn khẳng định Ngài là Nữ thần, người Mẹ của Vương quốc, tạo ra đất đai, giống lúa, rừng gỗ quý và luôn che chở dân lành, bài trừ kẻ bạo ngược. Lúc các thầy tư tế đọc kinh, những “bà bóng” sẽ thực hiện các vũ điệu uyển chuyển để minh họa cho lời ca. Kết thúc phần lễ là màn “múa bóng” cải biên do một đội thiếu nữ Chăm từ 10 đến 15 người biểu diễn trước tiền sảnh tháp chính trong thanh âm của kèn saranai, trống ParanUng, đàn kani-kura và xập xõa.

Khi người Việt đến tạo lập cuộc sống tại phương Nam, họ đã đón nhận hình tượng Pô Nagar vào hệ thống thần điện của mình, tương tự như tục thờ Mẹ Âu Cơ, Bà Đanh hay Bà Đậu. Tháp Bà dần trở thành chốn hành hương chung của các dân tộc cùng cộng cư tại vùng cực nam Trung Bộ, tương tự như việc ngư dân Việt tiếp thu tục thờ cá Ông từ người Chăm ở phía nam sông Gianh trở vào.

Hệ thống tư liệu thành văn sớm nhất về lịch sử Thiên Y A Na Thánh Mẫu chính là bài ký bằng chữ Hán của Phan Thanh Giản ghi lại sự tích tại núi Đại An, được bố chánh sứ Nguyễn Quýnh cho khắc lên văn bia dựng phía sau Tháp Bà vào năm 1856. Bên cạnh đó còn có bài Vãn Bà viết theo thể lục bát tại Khánh Hòa và bài Cổ Tháp linh tích theo thể song thất lục bát tại điện Hòn Chén (Thừa Thiên – Huế) – nơi thờ phụng Bà tiêu biểu cùng với Tháp Bà Nha Trang.

Theo nội dung ghi trên văn bia năm 1856, câu chuyện được tóm lược như sau:

  • Tại vùng núi Đại An (còn gọi là Đại Điển, tỉnh Khánh Hòa), có hai vợ chồng lão tiều phu nghèo làm nghề trồng dưa hấu. Do không có con, khi phát hiện một thiếu nữ xinh xắn thường xuyên hái dưa và đùa giỡn dưới trăng, ông bà đã nhận nàng làm con nuôi.
  • Một năm nọ, nhân lúc thiên tai mưa lũ, cô gái vốn là tiên nữ giáng trần vì nhớ cảnh bồng lai đã ẩn mình vào một khúc gỗ kỳ nam quý hiếm, nương theo dòng nước trôi ra biển lớn rồi tấp vào bờ biển Trung Hoa. Hương thơm ngào ngạt từ khúc gỗ thu hút người dân bản địa nhưng không một ai có thể nhấc nổi.
  • Nghe tin đồn, thái tử vùng Bắc Hải đến xem. Kỳ lạ thay, khúc gỗ bỗng nhẹ như tờ giấy dưới tay chàng. Thái tử đem báu vật về cung điện. Trong một đêm trăng thanh, chàng phát hiện một giai nhân tuyệt sắc bước ra từ khúc gỗ liền giữ chặt lại. Nàng thổ lộ danh tính là Thiên Y A Na và sau đó được vua cha tác thành, kết duyên cùng thái tử. Họ sinh được hai người con: con trai tên là Trí và con gái tên là Quý.
  • Sau một thời gian dài xa xứ, nỗi nhớ quê nhà thôi thúc nàng dẫn theo hai con ẩn vào khúc kỳ nam vượt biển trở về núi cũ. Tại quê hương, Bà ra sức dạy dỗ nhân dân cách trồng lúa, trồng bắp, dệt vải, bốc thuốc chữa bệnh và định ra các nghi lễ tôn giáo, giúp cuộc sống gia đình nào cũng ấm no, văn minh. Vào một ngày lành, một con chim hạc từ tầng mây hạ xuống đón Bà cùng hai con bay về trời.

Để tri ân công đức sâu dày đó, người dân đã lập tháp, tạc tượng phụng thờ và chọn ngày 23 tháng 3 âm lịch (ngày Bà thăng thiên) làm ngày Vía Bà. Dựa theo truyền thuyết này, ở hai bên tượng Pô Nagar bằng đá trong tháp chính còn được đặt thêm tượng Cô và tượng Cậu bằng gỗ để thờ phụng.

Khoảng hơn nửa thế kỷ sau, các sử quan triều Nguyễn khi biên soạn bộ sách Đại Nam nhất thống chí (phần tỉnh Phú Yên – Khánh Hòa, bản dịch của Nguyễn Đức Xứng và Trần Xuân, Nhà Văn hóa Giáo dục xuất bản năm 1964) đã dựa vào tấm bia này để chép lại “sự tích Tháp Thiên Y”, bổ sung các chi tiết linh hiển. Tài liệu triều đình cũng ghi nhận ngay từ buổi đầu, nhà Nguyễn đã ban sắc phong cho Bà là Hồng Nhân Phổ tế Linh ứng Thượng đẳng thần, đồng thời cắt cử 3 người dân ở làng Cù Lao làm từ phu trông nom hương khói.

Tiến trình tổ chức và các nghi thức nghiêm ngặt của lễ hội hiện nay

Hiện nay, Lễ hội Tháp Bà Nha Trang được tổ chức định kỳ từ ngày 20 đến ngày 23 tháng 3 âm lịch, thu hút đông đảo khách hành hương từ thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Ninh Thuận, Bình Thuận cùng bà con người Chăm, người Hoa, người Miên hội tụ về bên cạnh cư dân bản địa Khánh Hòa. Do người Việt đóng vai trò chủ trì nên một số nghi thức đã được điều chỉnh để hòa hợp với tín ngưỡng dân tộc (như sự xuất hiện của các vị thiền sư, việc thắp thêm nhang cây bên cạnh trầm hương, hay tục khoác thêm xiêm y cho tượng thần). Tiến trình ngày hội được thực hiện nghiêm ngặt qua các bước sau:

1. Lễ tắm tượng và thay y (Sáng ngày 20 tháng 3)

Nghi thức bắt đầu sau phần dâng cúng quả tươi, trầm hương cùng lời khấn bái trang nghiêm của vị chủ tế. Các thiếu nữ đức hạnh được tuyển chọn sẽ tiến hành tháo gỡ mũ miện, xiêm y cũ để tắm sạch tượng thần bằng nước nấu từ các loại hoa lá thơm (sau này có bổ sung thêm nước hoa). Toàn bộ khăn tắm phải là khăn mới hoàn toàn để đảm bảo sự tinh sạch. Từng động tác đều được thực hiện cẩn trọng; riêng phần khuôn mặt tượng được thấm lau bằng bông một cách nhẹ nhàng, tuyệt đối không để nước rơi vào mắt thần. Khi hoàn tất, tượng Bà cùng các bộ sinh thực khí linga, yôni và các bệ thờ nhỏ trong quần thể di tích sẽ được khoác lên những bộ xiêm y, mũ miện mới may bằng lụa quý, thêu đính kim tuyến và kim sa lấp lánh.

2. Lễ cúng chay của các nhà sư (Sáng ngày 22 tháng 3)

Các bậc thượng tọa, tăng ni và đạo hữu đồng lòng dâng hương hoa, xôi chè, bánh trái lên hương án tại tháp chính. Lời kinh tiếng kệ ngân vang cầu nguyện cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, mưa thuận gió hòa và mùa màng tươi tốt.

3. Lễ Tế sanh và múa bóng dâng Bà (Nửa đêm ngày 22 tháng 3)

Bên cạnh các lễ vật thông thường, một con heo sống được làm thịt sạch sẽ, để nguyên con kèm theo một bát tiết và một nhúm lông nhỏ được dâng lên điện thờ dưới sự điều hành của các bậc bô lão uy tín trong làng. Ngay sau đó, phần tiệc “múa bóng dâng Bà” do các vũ công thuộc xóm Bóng (làng Cù Lao) hoặc đoàn văn công Chăm từ Thuận Hải biểu diễn sẽ diễn ra nhằm thể hiện tấm lòng thành kính sâu sắc.

4. Lễ Chánh tế (Sáng sớm ngày 23 tháng 3)

Nghi lễ diễn ra trang trọng theo đúng bài bản tế thần cung đình của người Việt xưa với đầy đủ ban bệ: chánh tế, bồi tế, đông xướng, tây xướng cùng đội học trò lễ chỉnh tề trong trang phục hia mão. Bài văn tế được xướng lên nhịp nhàng theo tiếng nhạc lễ du dương, khép lại các nghi thức cốt lõi của ngày hội.

Không gian ngày hội văn hóa và ý nghĩa cộng đồng

Nhờ tọa lạc tại một vị trí giáp sông gần biển, không gian của lễ hội hiện lên vô cùng thơ mộng. Dưới chân đồi là dòng sông Cái hiền hòa, phía đông là cửa biển tấp nập thuyền bè treo cờ hội rực rỡ. Tuyến quốc lộ chạy ngang qua được nối liền với phố xá đông đúc bằng cây cầu Xóm Bóng dài rộng. Trong suốt các ngày diễn ra lễ hội, hệ thống đèn lồng và đèn điện đủ sắc màu tỏa sáng lấp lánh từ chân đồi lên tới sân tháp, soi bóng xuống mặt nước huyền ảo. Mùi hương trầm thơm ngát hòa cùng tiếng chuông trống vang vọng làm cho không khí thêm phần thiêng liêng. Từng dòng người từ cầu Hà Ra, cầu Xóm Bóng chen chân nối đuôi nhau lên xuống các bậc cấp đá để chiêm bái, khiến ai nấy đều trở nên thuần hậu, hòa nhã hơn.

Bên cạnh các nghi thức tâm linh, phần hội còn tổ chức nhiều hoạt động văn hóa dân gian sôi nổi như hát bội, đua ghe truyền thống và đua thuyền thúng ngay trên dòng sông Cái dưới chân đồi di tích.

Trải qua nhiều biến động lịch sử, dù có vài điểm thay đổi trong cách thức hành lễ so với người Chăm cổ, Lễ hội Tháp Bà Nha Trang của người Việt ngày nay vẫn giữ trọn vẹn cái gốc của tín ngưỡng phồn thực truyền thống. Đó là biểu tượng cao đẹp của tinh thần tri ân đấng sáng tạo, củng cố sợi dây gắn kết khối đại đoàn kết giữa các dân tộc anh em trên dải đất quê hương.