Lễ Hội Quang Trung: Hào Hùng Tiếng Trống Trận Đống Đa

Đối tượng suy tôn: Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ.
Địa điểm: Ở hai nơi: Đống Đa (Hà Nội) và làng Kiên Mỹ, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
Thời gian: Mồng 5 tháng giêng.
Đặc điểm: Rước rồng lửa và “cúng cháo thí” ở hội Đống Đa. Múa trống võ 12 chiếc ở hội Tây Sơn.

Người dân đất võ hay kẻ ăn người ở chốn kinh kỳ chúng tôi, cứ mỗi độ xuân về, khi cành đào xuân còn đâm lộc nở hồng là trong lòng lại rạo rực một thứ hào khí ngút trời. Ấy là cái không khí của ngày mùng 5 tháng Giêng – ngày mà cả hai đầu đất nước đồng loạt mở Lễ hội Quang Trung để tưởng nhớ vị anh hùng áo vải cờ đào Nguyễn Huệ.

Nhắc về ngài, chúng tôi – những người con nối nghiệp tiền nhân – ai cũng thuộc nằm lòng chương sử hào hùng. Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ sinh năm 1753 tại ấp Tây Sơn, làng Kiên Mỹ, huyện Bình Khê (nay thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Mùa xuân năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã dựng cờ khởi nghĩa với khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo” và viết hịch truyền đi khắp nơi kể tội Trương Phúc Loan. Cuộc khởi nghĩa được các tầng lớp nhân dân miền xuôi lẫn vùng thượng nhanh chóng hưởng ứng, đưa Nguyễn Huệ trở thành vị lãnh tụ kiệt xuất của phong trào nông dân thế kỷ XVIII.

Ngài là một nhà quân sự thiên tài. Năm 1785, ngài chỉ huy nghĩa quân đánh thắng quân xâm lược Xiêm ở trận Rạch Gâm – Xoài Mút, tiêu diệt gọn 5 vạn quân thủy bộ cùng 300 chiến thuyền. Bốn năm sau, vào năm 1789, ngài lại lập nên chiến công lừng lẫy khác khi tiêu diệt 20 vạn quân Thanh trong trận Đống Đa lịch sử. Đúng trưa mùng 5 Tết Kỷ Dậu, vua Quang Trung cùng tướng sĩ, với chiếc chiến bào nhuộm đen khói súng, đã oai nghiêm tiến vào kinh thành Thăng Long.

Không chỉ đánh giặc giỏi, ngài còn là nhà chính trị sáng suốt. Kháng chiến xong, ngài đưa ra nhiều chủ trương khoan sức dân, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa dân tộc. Thế nhưng, giữa lúc đất nước đang trên đà chuyển mình, ngày 16-9-1792, ngài đột ngột băng hà khi mới bước sang tuổi 39. Để tri ân công đức ấy, hằng năm Lễ hội Quang Trung được tổ chức trọng thể ở hai nơi xa xôi nhưng chung một dòng máu sử xanh: tại gò Đống Đa (Hà Nội) và làng Kiên Mỹ (huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định).

Hội Đống Đa Hà Nội: Vang Bóng Rồng Lửa Và Đạo Nghĩa Nghìn Năm

Hàng năm, cứ vào mùng 5 Tết Nguyên Đán, khi phố phường thủ đô chưa nhạt màu xác pháo, người Hà Nội lại nô nức đổ về hướng Tây Nam thành phố đến Gò Đống Đa (thuộc quận Đống Đa) dự hội. Đây là lễ hội chiến thắng, mừng công tích lẫy lừng chống ngoại xâm. Cách đây hơn hai thế kỷ, nơi đây là chiến trường đẫm máu. Đêm mùng 4 rạng ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu (29 – 30 tháng 1 năm 1789), đồn trại giặc ở Khương Thượng bị hạ gục. Tên Thái thú Điền Châu Sám Nghi Đống phải thắt cổ tự tử, còn chủ soái Tôn Sĩ Nghị hốt hoảng tháo chân chuồn về nước không còn mảnh giáp. Đống Đa trở thành di tích lịch sử vẻ vang, nơi 20 vạn quân Thanh bị vùi xác thành 12 gò đống quanh vùng.

Lệ hội xứ kinh kỳ bắt đầu từ chiều mùng 4 Tết. Vị chủ tế cùng các cụ cao niên đình Khương Thượng đã tất bật chuẩn bị kiệu, lọng, cờ, bát bửu cho lễ rước ngày mai. Sau đó, mọi người sang chùa Bộc thắp hương trước bàn thờ tượng vua Quang Trung – bức tượng được nhân dân gìn giữ an toàn qua nhiều biến cố lịch sử.

Nghi Thức Đại Lễ Tế Thần Và Đám Rước Khải Hoàn

Tinh mơ sáng mùng 5, cửa đình làng Khương Thượng rộng mở, khói hương thơm ngát tỏa lan trước lá cờ đại cao ngất và cờ ngũ hành cắm la liệt quanh sân. Khi sáng rõ mặt người, bô lão và chức sắc tế tựu đông đủ, tiếng chiêng trống báo hội dóng dả vang lên. Cuộc đại lễ bắt đầu bằng lễ tế thần với quy định dâng đủ 6 tuần rượu. Đến cuối giờ Thìn (gần 12 giờ), mọi việc hoàn tất để chuẩn bị cho đám rước thần mừng chiến thắng.

Quá ngọ, đám rước khởi hành từ đình Khương Thượng tiến về Gò Đống Đa. Quân chấp kích đô tùy, quan viên gọn gàng trong trang phục lễ hội chờ lệnh. Ba hồi chín tiếng trống âm vang báo hiệu, dân làng đốt một bánh pháo tượng trưng cho lệnh ra quân. Thật đúng là cảnh trống dong cờ mở! Dẫn đầu là cờ tiết, cờ mao biểu hiện uy đức thần linh; tiếp theo là cờ ngũ hành, cờ tứ linh. Các chân cờ đều đội nón dấu, áo nâu, nẹp đỏ, thắt lưng bó que. Theo sau là hai thanh niên vác hai biển “Tĩnh túc” và “Hồi tỵ” để giữ gìn trật tự.

Sau cờ biển là trống cái do hai người khiêng, điểm nhịp từng tiếng một cùng phường nhạc hòa tấu thanh la, trống bản, sênh tiền nghe rất vui tai. Rồi đến Long đình tỏa hương trầm thoang thoảng do 4 đô tùy khiêng, có hai lọng vàng che hai bên. Nối gót là hàng bô lão bước đi chậm rãi, uy nghiêm, cùng dân làng đủ mọi lứa tuổi đi theo suốt cuộc hành trình.

Rộn rã và được mong chờ nhất là tốp đi sau cùng với “con rồng lửa” của thanh niên hai làng Khương Thượng và Đồng Quang. Con rồng được bện bằng nùi rơm, mo nang và giấy bồi trang trí sặc sỡ, vừa đi vừa múa theo nhịp sênh tiền. Một tốp thanh niên mặc võ phục đi quanh rồng lửa, biểu diễn côn quyền tái hiện trận chiến năm xưa.

Tục Cúng Cháo Thí Nhân Văn Giữa Lòng Hội Chiến Thắng

Trong khi đám rước diễu hành, ở chùa Đống Quang đối diện gò Đống Đa cũng nghi ngút khói hương. Tiếng mõ hòa cùng lời kinh cầu cho anh linh các nghĩa quân. Đặc biệt, tại đây còn diễn ra lễ “cúng cháo thí” cho cô hồn quân chiến bại. Đây là một hành động nhân nghĩa, thể hiện đạo đức truyền thống cao đẹp của nhân dân ta đối với kẻ thù đã ngã xuống. Cùng lúc đó, chùa Bộc cũng chen chúc người dâng hương hoa tưởng niệm trước tượng vua Quang Trung.

Khi đám rước về đến Gò Đống Đa, một tràng pháo dài nổ giòn giã chào mừng. Dưới chân tượng đài, dàn quân nhạc tấu lễ, đoàn đại biểu làm lễ dâng hương và đọc văn tế kể lại sự tích chiến công Kỷ Dậu, ca ngợi thiên tài quân sự của ngài. Sau đó, không khí hội hè kéo dài đến tối với các trò múa rồng, múa lân, múa con đĩ đánh bồng cùng các cuộc đua tài đánh đu, đấu vật, chơi cờ, chọi gà…

Hội Tây Sơn Bình Định: Về Nơi Phát Tích Bản Doanh Đất Võ

Nếu Đống Đa là đỉnh cao chiến công làm quân cướp nước kinh hồn bạt vía, thì Tây Sơn chính là cái nôi nuôi dưỡng phong trào nông dân yêu nước cuối thế kỷ XVIII. Khách đến Tây Sơn là để tận mắt chứng kiến những chứng tích lịch sử của một vùng đất giàu truyền thống thượng võ và văn hiến.

Huyện Bình Khê xưa (nay là huyện Tây Sơn) nằm ở phía Tây tỉnh Bình Định. Du khách đi ô tô hoặc tàu lửa theo quốc lộ 1, đến ngã ba Cầu Ghềnh thì rẽ theo quốc lộ 19 đi Gia Lai – Kon Tum tầm 28 km là đến thị trấn Phú Phong. Từ trung tâm thị trấn, con đường mang tên Đống Đa dẫn về phía Bắc qua chiếc cầu Kiên Mỹ xinh xắn bắc ngang sông Côn sẽ đưa khách đến nhà bảo tàng Quang Trung. Bảo tàng được xây từ năm 1977 ngay gần nền nhà cũ của ba anh em. Nơi đây hiện còn lưu giữ cây me cổ thụ hơn 200 tuổi có chu vi gốc đến 4 mét và giếng nước đá gắn liền với tuổi ấu thơ của ngài.

Gần đó là điện thờ Tây Sơn xây từ năm 1960. Trước sân điện có cửa Tam quan, bên trong có nhà bia ghi công lao của vua Quang Trung. Chính điện gồm 3 gian: giữa thờ Quang Trung, hai bên thờ Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ. Điện thờ này được xây cất ngay trên nền nhà cũ của đình làng Kiên Mỹ ngày xưa – ngôi đình từng nổi tiếng qua câu ca “Hạc chợ Đình, cột đình Kiên Mỹ”. Cách đó không xa là di tích Bến Trẩu, nơi ngày xưa ông Hai Trẩu (Nguyễn Nhạc) thường chở trầu từ thượng nguồn về bán ở vùng An Thái, An Nhơn, để lại câu hát đậm đà trong ký ức người dân:

“Cây me cũ, Bến Trẩu xưa
Không nên tình nghĩa, cũng đón đưa cho trọn niềm.”

Về thăm đất Tây Sơn, người già trong làng vẫn say sưa kể cho con cháu nghe những giai thoại về Bãi tập voi và Trường võ của nữ tướng Bùi Thị Xuân; về hòn Tam Phước với những lò rèn vũ khí bí mật; về đồng Cô Hầu nơi người vợ thứ của Nguyễn Nhạc (con gái một trưởng bản Ba Na) quản lý lương thực; hay hòn Yến, hòn Lãnh Lương nơi phát lương khao thưởng quân sĩ cùng gò Dinh, gò Đá Đen – những bãi tập luyện đầu tiên của nghĩa quân.

Hùng Tráng Nhạc Võ 12 Trống Và Vũ Điệu Song Kiếm Đất Kinh Kỳ

Sáng mùng 5 tháng Giêng, cùng lúc với đầu cầu Hà Nội, lễ hội tại làng Kiên Mỹ khai màn tưng bừng nhất. Từ ngày mùng 3 và mùng 4 Tết, người ta đã chăng đèn kết hoa, dựng cổng chào, sửa sang đường sá và dựng mô hình trận Ngọc Hồi – Đống Đa trên bãi cát bên bờ sông Côn. Sáng mùng 5, dòng người từ khắp nơi đổ về đông nghịt, từ các tỉnh bạn cho đến các đoàn học sinh đi ngoại khóa lịch sử. Những năm kỷ niệm chẵn, đoàn đại biểu dân tộc Ba Na từ Tây Sơn thượng đạo còn mang theo cả dàn cồng chiêng và các điệu múa thượng võ về tham dự.

Sau chuỗi pháo nổ giòn giã kéo dài đến 10 phút, tiếng trống đại vang lên báo hiệu khai mạc. Trong mùi trầm hương thơm ngát, hàng ngàn người làm lễ tưởng niệm và dâng hương. Đúng lúc này, dàn nhạc võ Tây Sơn với 12 chiếc trống đồng loạt nổi lên các khúc thúc quân và khúc khải hoàn đầy khí thế.

Cái hồn của hội Tây Sơn nằm ở điệu múa trống võ độc nhất vô nhị. Người xem sẽ được chiêm ngưỡng tài nghệ của thiếu nữ tuổi đôi tám mặc áo chẽn đỏ, quấn màu hồng nhạt, thắt dải khăn xanh, hai tay cầm dùi lướt thoăn thoắt trên 12 mặt trống một cách điêu luyện. Kế đó là các màn biểu diễn song kiếm, côn, quyền, đại đao của các môn sinh đến từ các lò võ cổ truyền nổi tiếng như “Roi Thuận Truyền, quyền An Thái”.

Khi đêm xuống, đất Tây Sơn – cái nôi của hát bội – lại rộn ràng với những đêm diễn tuồng, hát bài chòi. Khách thập phương ngồi quây quần, nhấm nháp ly rượu Bàu Đá cay nồng bên món thịt bò thưng cuốn bánh tráng. Món thịt bò rim khô với nước mắm ngon, đường, tiêu, mè rang này chính là món “lương khô” huyền thoại đã theo chân nghĩa quân Tây Sơn trong cuộc hành quân thần tốc năm nào.