LỄ HỘI NGHINH ÔNG
| Đối tượng suy tôn: | Cá Ông (cá voi) – sinh vật thiêng. |
| Địa điểm: | Tại các lăng, miếu thờ cá Ông. |
| Thời gian: | Không có ngày cố định chung, mà tùy đặc điểm của từng địa phương. |
| Đặc điểm: | Gắn với tục thờ cá Ông của ngư dân ven biển từ đèo Ngang đến Hà Tiên. |
Lễ hội Nghinh Ông, hay còn được biết đến với tên gọi lễ Cúng cá Ông (cá voi), gắn liền với phong tục thờ phụng cá Ông trải dài từ Thanh Hóa vào đến Kiên Giang và đảo Phú Quốc. Đây được xem là hành trình văn hóa dưới nước có quy mô lớn nhất của cộng đồng ngư dân. Tùy theo từng địa phương, ngày hội mang nhiều danh xưng khác nhau như lễ Rước cốt Ông, lễ Cầu ngư, lễ Tế cá Ông, lễ Cúng Ông hay lễ Nghinh Ông Thủy tướng. Dẫu tên gọi có sự khác biệt, tất cả đều chung một cội nguồn tâm thức: coi cá Ông là linh vật thiêng liêng của đại dương, vị cứu tinh đại độ đối với những người đi biển và làm nghề đánh cá. Quan niệm này đã ăn sâu bám rễ, trở thành một loại hình tín ngưỡng dân gian đặc trưng, bền vững.
Trước khi đi sâu vào diễn biến của ngày hội, việc tìm hiểu về nguồn gốc lịch sử của tục thờ cá Ông, sự kính ngưỡng của ngư dân đối với loài sinh vật khổng lồ, “hiền” và “thiêng” này, cũng như góc nhìn của vương triều phong kiến nhà Nguyễn là điều vô cùng cần thiết.
Nguồn Gốc Lịch Sử Của Tục Thờ Cá Ông (Cá Voi)
Về mặt sinh học, cá Ông (tức cá voi) là loài động vật có vú sinh sống ngoài biển khơi, đẻ con và hô hấp bằng phổi. Chúng sở hữu thân hình đồ sộ với trọng lượng có thể đạt từ 120 đến 150 tấn, chiều dài cơ thể dao động từ 25 đến 30 mét, chủ yếu phân bố ở các vùng biển ôn đới và hàn đới. Đối với ngành thủy sản ở các quốc gia phát triển, cá voi vốn là đối tượng săn bắt. Tuy nhiên, do đặc tính thở bằng phổi nên cứ khoảng 3 đến 5 phút, chúng lại phải nổi lên mặt nước để lấy dưỡng khí. Đặc điểm tự nhiên này gắn liền với những câu chuyện cá voi “cứu” người hay nâng đỡ ghe thuyền gặp nạn trong giông bão, cũng như việc cá bị “lụy” (chết) rồi trôi dạt vào bờ vào mùa mưa bão.
Trong tác phẩm Thối thực ký văn, tác giả Trương Quốc Dụng đã ghi chép về loài sinh vật này như sau: “Khi phong ba nổi dậy, thuyền bị đắm giữa biển, cá Ông thường xuất hiện, đội thuyền trên lưng, đưa vào gần bờ, vẫy đuôi bỏ lên”.
Mặt khác, cuốn sách Gia Định thành thông chí được Trịnh Hoài Đức biên soạn vào đầu thế kỷ XIX cũng mô tả rất rõ tại mục Thành trì chí: Những lúc ghe thuyền gặp sóng gió hiểm nguy giữa biển, thường thấy cá voi bơi kèm hai bên để giữ cho thuyền không bị nghiêng đắm, bảo vệ cho người được bình an. Nếu chẳng may thuyền bị chìm hoàn toàn, cá Ông sẽ vực người bị nạn đưa vào bờ. Ghi nhận công đức này, triều đình phong kiến đã ban sắc phong tặng danh hiệu “Nam hải Tướng quân Ngọc lân tôn thần”, đồng thời đưa vào Điển lễ thờ tự của quốc gia.
Bên cạnh đó, bộ sách Đại Nam nhất thống chí (phần chép về tỉnh Thừa Thiên) gọi loài cá này bằng cái tên kính cẩn là “Đức ngư”. Sách mô tả cá có đầu tròn, trên trán có lỗ phun nước, da màu đen trơn láng và không có vảy, phần đuôi xẻ hai vây trông giống đuôi tôm, tính tình rất từ thiện, chuyên cứu giúp người hoạn nạn trên biển. Vào đầu niên hiệu Minh Mạng, nhà vua đặt tên cho loài này là Nhân ngư, đến đầu niên hiệu Tự Đức thì đổi thành Đức ngư. Cư dân thời bấy giờ quan niệm rằng, loại cá này ở vùng biển Nam Hải thì cực kỳ linh hiển, còn ở các vùng biển khác thì không.
Trong đời sống tinh thần của cư dân duyên hải miền Trung, dân gian vẫn lưu truyền câu chuyện nhuốm màu thần thoại: Cá Ông vốn được tạo thành từ một mảnh vải xé ra từ chiếc áo cà sa của Phật bà Quan Âm quăng xuống biển. Nhờ sở hữu bộ xương đặc biệt có phép “thâu đường” (rút ngắn khoảng cách đại dương), cá Ông được Phật bà giao phó sứ mệnh tầm kiếm và cứu vớt những người gặp nạn giữa trùng khơi. Ngay cả trong thần thoại của người Chăm, cốt truyện về sự tích cá Ông cũng xuất hiện với nhiều tình tiết phong phú, song cái kết vẫn luôn tôn vinh đặc tính cứu người trên biển bao la.
Nghi Thức Tang Chế Và Tín Ngưỡng Thờ Tự Cá Ông
Xuất phát từ niềm tin cá Ông không bao giờ gây hại cho người mà luôn trợ giúp ngư dân khi gặp nạn, nên khi thấy cá “lụy”, dân làng biển xem đó là điềm lành, báo hiệu một thời kỳ làm ăn thịnh vượng, phát đạt. Người đầu tiên phát hiện ra xác cá Ông được coi là người có phúc, được “Ông” chọn lựa để trao gửi niềm tin. Người này sẽ vinh dự đảm nhận vai trò “Trưởng nam”, đại diện cho cộng đồng thắt khăn tang đỏ và chịu tang trong vòng 100 ngày.
Khi phát hiện, vạn trưởng sẽ huy động dân làng cùng nhau dìu và đưa xác Ông vào bờ để tổ chức lễ an táng. Trong trường hợp xác cá quá lớn, người ta sẽ dùng đăng tre quây lại giữa dòng nước, cử người canh gác cẩn mật cho đến khi phần thịt phân hủy hết, sau đó mới cung thỉnh bộ xương cốt lên lăng thờ.
Vào thời phong kiến trước năm 1945, luật lệ quy định rất nghiêm ngặt: khi có cá Ông lụy, xã trưởng phải lập tức trình báo lên phủ, huyện để quan địa phương cử người về thẩm định, cấp tiền tuất, hương đèn và vải đỏ quấn đủ 7 vòng để làm lễ khâm liệm, đồng thời cấp đất xây lăng và ruộng hương hỏa để lo việc thờ cúng lâu dài. Toàn bộ nghi thức tang lễ được thực hiện dựa theo cuốn “Thọ Mai Gia Lễ”, chỉ giản lược một vài chi tiết nhỏ so với đám tang của người. Sau 3 năm, dân làng tiến hành nghi thức cải táng, bốc xương xếp gọn vào quách hoặc khạp rồi đưa vào lăng thờ cố định. Mỗi lăng Ông đều có ban tế tự và hội đồng quản lý để trông nom, khói hương quanh năm.
Chính sự hạn chế về mặt khoa học thời xưa kết hợp với tâm lý tin tưởng vào sự che chở của thần Phật đã khiến ngư dân gọi cá Ông bằng nhiều danh xưng tôn kính: “Ông Nam Hải”, “Ông Chuông”, “Ông Lộng”, “Ông Khơi”, “Ông Cậu”, “Ông Lớn”, “Ông Sứa”… Đối với họ, “Ông” là vị thần hộ mệnh tối cao giữa biển khơi sóng gió. Việc phụng thờ chu đáo chính là biểu hiện của đạo lý đền ơn đáp nghĩa theo luật nhân quả.
Hệ thống văn tế, bài vè và các điệu hát bả trạo vùng ven biển đã minh chứng cho niềm tin sắc đá này. Nếu như nội dung văn tế tại các tỉnh miền Trung thiên về ca ngợi ơn đức cứu người qua cơn giông bão, thì văn tế tại các tỉnh Nam Bộ (từ Bà Rịa trở vào) lại nhấn mạnh đến lời cầu xin “Ông” phù hộ cho mưa thuận gió hòa, tôm cá đầy khoang, chuyến biển ra khơi vào lộng được an toàn.
Suốt dọc chiều dài bờ biển từ miền Trung vào đến Nam Bộ, hầu như địa phương nào cũng xây dựng lăng, miếu hoặc đình thờ cá Ông:
- Các làng nghề cá ở cửa sông Gianh (Quảng Bình).
- Khu vực Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế).
- Vùng Hội An, Thăng Bình, Tam Kỳ (Quảng Nam).
- Vùng biển Quy Nhơn (Bình Định) với hàng chục ngôi miếu thờ.
- Các lăng miếu tại Khánh Hòa, Bình Thuận, Vũng Tàu.
- Khu vực Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh).
- Vùng Gò Công (Tiền Giang), Bình Đại, Thạnh Phú (Bến Tre).
- Vùng Vĩnh Long, Trà Vinh, Ngọc Hiển (Cà Mau), Phú Quốc (Kiên Giang)…
Thông thường, cá Ông được thờ tự riêng biệt tại các lăng, miếu. Tuy nhiên, một số nơi lại phối thờ ngay trong đình làng hoặc xây dựng lăng thờ nằm chung trong khuôn viên đình. Có những ngôi lăng cổ kính là nơi lưu giữ và thờ phụng hàng chục bộ cốt cá Ông lớn nhỏ khác nhau, tiêu biểu như các lăng thờ ở Quy Nhơn (Bình Định) hay làng Cù Lao thuộc thành phố Nha Trang (Khánh Hòa).
Nghi Thức Lễ Nghinh Ông Và Các Hoạt Động Phần Hội
Về mặt cội nguồn văn hóa, tục thờ cá Ông vốn là một tín ngưỡng bản địa của người Chăm cổ. Trong quá trình di cư và giao lưu văn hóa, các lưu dân người Việt đã tiếp thu, bản địa hóa và biến tín ngưỡng này thành một phần không thể thiếu trong đời sống. Điều này lý giải vì sao phong tục thờ cúng và tổ chức lễ hội cá Ông hằng năm chỉ xuất hiện từ mạn đèo Ngang trở vào phía Nam mà hoàn toàn vắng bóng ở các tỉnh phía Bắc.
Tất nhiên, người Việt đã có những cải biến mang tính nền tảng, từ quy trình tổ chức tang lễ, cách cải táng lấy cốt cho đến nghi thức cúng tế hằng năm. Ở đây diễn ra hiện tượng hòa hợp tín ngưỡng sâu sắc: kết hợp thờ cá Ông với thờ phụng tổ tiên, các bậc Tiền hiền, Hậu hiền, đồng thời lồng ghép với các nghi lễ nông nghiệp như Cầu mùa, Cầu an. Đặc biệt, nghi thức rước xách hoàn toàn tuân theo phong cách Việt, thể hiện rõ qua trang phục, hệ thống cờ lọng, kiệu phướn và các động tác hành lễ.
Phần hội vui chơi sau nghi thức tế lễ cũng diễn ra hết sức phong phú và mang đặc trưng vùng miền. Ở vùng Bình Trị Thiên, đêm hội sôi động với các tiết mục hò khoan, chèo cạn và múa bông. Trong khi đó, các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định lại phổ biến điệu hát bả trạo và nghệ thuật hát bội.
Tại Phú Yên và Khánh Hòa, ngày hội là dịp để thanh niên tranh tài đua ghe, đua thuyền thúng. Đối với các tỉnh ven biển Nam Bộ, lễ Nghinh Ông thường có lễ xây chầu và hát bội kéo dài nhiều đêm liên tục. Trong những ngày này, toàn thể ngư dân đều gác lại việc khơi xa để nghỉ ngơi, dự lễ và tham gia vui chơi trọn vẹn.
Về mặt thời gian, lễ hội không có một ngày cố định cho tất cả các vùng. Mỗi địa phương sẽ chọn ngày dựa vào thời điểm có cá Ông “lụy” đầu tiên hoặc ngày đón nhận sắc phong của nhà vua để làm ngày đại lễ, xem như ngày giỗ Ông của vạn chài.
Dù ngày tháng có sự dịch chuyển, phần lớn các lễ hội đều diễn ra vào mùa biển động, mưa bão nhiều – thời điểm cá Ông dễ gặp nạn và xác trôi dạt vào bờ trúng dịp định kỳ.
Một quy tắc bất biến trong tế lễ là vật phẩm dâng cúng tuyệt đối không hoặc rất ít khi sử dụng các loại hải sản như tôm, cá, mực. Quy mô của ngày hội lớn hay nhỏ hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình kinh tế và thu nhập của vạn chài, bởi nguồn kinh phí chủ yếu dựa vào sự đóng góp tự nguyện từ các chủ ghe xuồng.
Năm nào trúng mùa biển, không gặp tai nạn chìm ghe hay tổn thất nhân mạng và phương tiện, việc cúng tế sẽ được tổ chức hết sức linh đình. Khi đó, dân làng sẽ giết mổ trâu, bò, heo để liên hoan, nâng cao giá trị tiền thưởng cho các giải đua thuyền và kéo dài số ngày hát bội.
Trong những ngày này, lăng thờ được trang hoàng rực rỡ với đèn hoa lộng lẫy. Trước hiên nhà của mỗi gia đình trong vạn ghe đều bày biện bàn hương án đầy đủ nhang đèn, hoa quả, mâm xôi, đêm đến lại thắp đèn lồng sáng rực. Tất cả tàu thuyền của ngư phủ đều về bến neo đậu chỉnh tề, mỗi chiếc đều chăng đèn giấy nhiều màu, kết hoa từ mũi đến lái và lên cả cột buồm. Khi màn đêm buông xuống, cả bến sông rạch hiện lên cảnh tượng lung linh như một hội hoa đăng thực thụ.
Về mặt nghi thức, ban quý tế của làng cá hoặc vạn cá sẽ đứng ra điều hành mọi công việc tương tự như lễ cúng đình hằng năm. Quy trình bao gồm lễ nghinh rước, lễ dâng hương, tế Tiền hiền, Hậu hiền, có nơi còn lập giàn cúng cô hồn hoặc mời sư sãi đến tụng kinh gõ mõ cầu an như tại Vàm Láng (Gò Công).
Chi Tiết Diễn Biến Lễ Hội Tại Một Số Vùng Tiêu Biểu
Lễ Rước Cốt Ông Tại Bảo Ninh (Quảng Bình)
Nghi lễ tại đây thường khởi sự vào buổi sáng sớm với đoàn rước kiệu đặt bài vị ghi chép sự tích và ngày cá Ông lụy. Đoàn rước được hộ tống bởi cờ, lọng, tán và đội binh khí gươm giáo di chuyển trang nghiêm từ lăng ra sát mép bờ biển rồi quay trở về.
Tiếp theo là lễ chánh tế. Giữa làn khói hương trầm nghi ngút, vị chánh bái kính cẩn dâng lễ vật và đọc bài văn tế bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của dân làng, đồng thời cầu mong mùa biển tới sẽ thuận lợi, tôm cá đầy khoang, thuyền bè đi khơi về lộng an toàn. Đêm xuống, bến sông rộn ràng với điệu múa bông và làn điệu hò khoan – chèo cạn.
Ngày thứ hai là ngày chánh lễ, toàn thể dân làng cùng dự tế, ăn uống chung vui và trao đổi kinh nghiệm đi biển. Sang ngày thứ ba, từ sáng sớm, nhân dân tập trung ra bãi biển làm lễ “xuống biển” để khép lại hội Cầu Ngư.
Một chiếc ghe mô hình bằng khung tre bồi giấy, bên trên đặt con cá biển bằng giấy được đẩy ra khơi xa giữa tiếng reo hò hoan hỷ của đám đông. Con thuyền theo sóng trôi xa rồi chìm dần dưới biển. Người dân quan niệm năm nào chiếc thuyền tượng trưng giữ được thế cân bằng lâu trên sóng, từ từ chìm xuống mà không bị lật úp thì năm đó vạn chài sẽ gặp nhiều may mắn, thuận lợi.
Lễ Nghinh Ông Tại Huyện Bình Đại (Bến Tre)
Tại Bình Đại, toàn thể ngư dân trong vạn chài đã cùng nhau chuẩn bị trước cả tháng trời. Tất cả tàu thuyền đánh bắt dù đang ở khơi xa cũng đều quay về bến tụ hội đông đủ. Lăng thờ được dọn dẹp và treo cờ đại, quốc kỳ cùng cờ đuôi nheo rực rỡ. Mỗi gia đình đều thiết lập một bàn thờ nhỏ nơi hiên nhà hoặc góc sân. Các thức cúng mặn như gà, vịt, đầu heo hay heo quay chỉ được bày ra đúng giờ hành lễ. Trên các cột buồm của tàu thuyền, những dây pháo dài đã được treo sẵn sàng.
Đêm đầu tiên diễn ra lễ cúng cầu an tại lăng dưới sự điều hành của vị chánh bái kết hợp cùng các vị sư sãi tụng kinh gõ mõ, cầu nguyện cho xóm làng yên bình, mọi người mạnh khỏe, công việc hanh thông. Sau phần lễ là những trò chơi, những cuộc vui. Có thể nói cả vạn chài thức suốt đêm trong tiếng pháo nổ đì đùng, ánh sáng pháo hoa chốc chốc lại lóe sáng hòa cùng tiếng đàn ca vang vọng.
Khoảng ba giờ sáng ngày hôm sau, tiếng trống thúc liên hồi từ đình và lăng bộ cá Ông vang lên, báo hiệu cuộc rước kiệu trên biển bắt đầu.
Khi trời vừa hửng sáng, đoàn rước xuất phát từ lăng hướng ra bến tàu. Đi đầu là lá cờ đại, theo sau là đội học trò lễ mặc quần xanh nẹp vàng, áo xanh nẹp đỏ. Kế tiếp là chiếc kiệu bốn người khiêng đặt bài vị cùng lễ vật bánh mứt, trái cây. Hai người cầm phướn và đại kỳ đi hai bên hộ tống, theo sau là vị chánh niệm hương và phó niệm hương. Đội vác chấp kích, lỗ bộ gồm 8 người cùng dàn nhạc ngũ âm 5 người đồng hành tạo nên khung cảnh cực kỳ trang nghiêm.
Ra đến bến, đoàn rước tiến lên chiếc tàu chủ đã được ban khánh tiết tuyển chọn kỹ lưỡng dựa trên các tiêu chuẩn khắt khe: chủ tàu phải là người đức độ, uy tín, làm ăn đúng đắn và gia đình không vướng tang chế. Khi tàu chính nổ máy rời bến, hàng trăm chiếc tàu thuyền trang hoàng rực rỡ đậu xung quanh cũng đồng loạt nổ máy nối đuôi nhau tiến ra cửa sông để “ra quân”.
Trên mặt biển bao la, tàu chính dẫn đầu, các tàu khác dàn hàng ngang cùng tiến tới. Tiếng động cơ gầm vang hòa cùng tiếng hò reo, tiếng trống rộn ràng của các đội múa lân trên tàu tạo nên một khúc nhạc biển khơi vô cùng náo nức. Các phóng viên nhiếp ảnh, quay video đu mình trên cột buồm để cố thu vào trong ống kính những nét đẹp và khí thế tưng bừng của ngày hội nước trên mặt biển bao la. Mặt biển bị đánh động sủi bọt đục ngầu, sóng cuộn to hơn nhưng tất cả đều đồng lòng hướng về phía khơi xa.
Đến tọa độ đã định trước, chiếc tàu chính ra tín hiệu giảm tốc độ, và vị chánh tế tổ chức “xin keo”. Nếu việc “xin keo” đạt, thì vị chánh tế ra lệnh các tàu quẩn đảo thành một vòng tròn với bán kính tương đối rộng, theo tập tục xưa là để chứng kiến hiện tượng “lên vọi” (có nghĩa là dấu hiệu – tất nhiên là tưởng tượng – cá Ông đã vế, chứng giám lòng thành của ngư dân trong ngày lễ Nghinh Ông). Trường hợp việc “xin keo” không đạt, thì tàu phải tiếp tục chạy thêm một đoạn nữa, và xin lần khác, cho đến khi đạt được yêu cầu.
Khi đoàn tàu quay trở về, các tàu liên tục đốt pháo văn rền cho tới khi cập bến. Lúc này, bà con đứng chờ đông nghẹt trên bờ sẽ ùa ra đón tin mừng. Ngư dân quan niệm nếu chuyến đi chỉ cần xin keo một lần là được ngay thì năm đó sẽ là một năm đại trúng mùa biển, ghe lưới an toàn tuyệt đối. Đón đoàn rước trở về bến là đội lân, dàn nhạc tấu và những tràng pháo dài nổ chào mừng. Sau khi đoàn rước an vị tại lăng, ban tổ chức tiếp tục cử hành lễ cúng tiên sư, tổ nghề và các vị Tiền hiền, Hậu hiền.
Nghi thức trang trọng nhất – lễ chánh tế – được cử hành vào lúc nửa đêm hôm đó. Vật phẩm dâng cúng gồm một con heo sống cạo sạch đặt trên mâm, các mâm xôi ngũ sắc xếp cao cùng hoa quả, bánh trái. Buổi lễ tuân thủ nghiêm ngặt các bước:
- Lễ khai mõ: Vị chánh tế đánh liên tục 3 hồi mõ, mỗi hồi gồm 120 tiếng (tổng cộng 360 tiếng, tượng trưng cho số ngày trong một năm), tiếp theo là phần khai chiêng và khai trống.
- Nghi thức niệm hương: Vị chánh bái tiến lên dâng hương và trang trọng đọc bài văn tế.
- Dâng lễ vật: Đội học trò lễ thực hiện các động tác di chuyển nhịp nhàng để dâng hương, đăng, trà, quả lên ban thờ trong tiếng nhạc tế trầm hùng.
- Chúc rượu và hóa sớ: Đội học trò lễ thực hiện tuần rượu, lạy tạ thần linh và kết thúc bằng việc đốt sớ văn giữa tiếng nhạc hòa tấu vang dội.
Giá Trị Nhân Văn Của Tín Ngưỡng Nghinh Ông
Gạt bỏ một vài nghi thức rườm rà cùng một số tập tục mang sắc thái cổ xưa, lễ hội Nghinh Ông chính là ngày hội nước lớn nhất, chứa đựng khát vọng mộc mạc và chân thành của những con người quanh năm gắn bó với sóng nước, hằng ngày phải đối mặt với sự bao la và bất trắc của tự nhiên.
In trong khoảnh khắc thiêng liêng của không gian lễ hội, khoảng cách giữa thế giới thần linh và đời sống dân dã dường như được xóa nhòa. Tục thờ cúng cá Ông với cội nguồn xa xưa, qua thời gian đã tiếp biến thêm màu sắc của Phật giáo và Nho giáo, hoàn toàn phù hợp với cấu trúc đa nguyên trong hệ thống tín ngưỡng của người Việt.
Hành trình tồn tại và phát triển của lễ hội đã tôn vinh những đạo lý cổ truyền thấm đẫm tinh thần nhân văn. Cá voi – một sinh vật có ích của biển cả – đã được nhân cách hóa thành một đấng cứu thế, một sinh vật “hiền” và “thiêng” luôn xả thân cứu người qua cơn hoạn nạn. Chính vì vậy, loài vật này nhận được sự biết ơn, tôn sùng của con người không chỉ khi đang sống mà ngay cả lúc đã qua đời. Lễ hội Nghinh Ông chính là ngày hội để ngư dân thỏa mãn nhu cầu đền ơn, báo nghĩa theo đúng truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Cốt lõi hiện thực của phong tục thờ cúng và lễ hội cá Ông hằng năm của cư dân ven biển chính là nằm ở điểm giá trị cao đẹp đó.
