| Đối tượng suy tôn: | Tả quân Lê Văn Duyệt. |
| Địa điểm: | Lăng Ông Bà Chiểu, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. |
| Thời gian: | Ngày giỗ Lê Tả quân (mồng 1 tháng Tám âm lịch) và Hội đầu xuân (ngày mồng 1 và mồng 2 Tết). |
| Đặc điểm: | Cộng đồng người Hoa chiếm khoảng 50% tổng số lượng người tham gia lễ hội. |
Từ xưa đến nay, thói quen truyền miệng của người dân Sài Gòn vẫn luôn gắn liền với cặp từ “Lăng Ông – Bà Chiểu”. Tên gọi này được dùng để chỉ khu lăng thờ Tả quân Lê Văn Duyệt, vị danh tướng lẫy lừng từng giữ chức Tổng trấn Gia Định thành, cai quản toàn bộ khu vực Nam Bộ và tỉnh Bình Thuận ngày nay. Khu di tích tọa lạc ngay tại địa bàn Bà Chiểu, cụ thể hơn là nằm sát cạnh ngôi chợ Bà Chiểu sầm uất. Bà Chiểu vốn là tên gọi của một địa danh cổ thuộc xã Bình Hòa, tỉnh Gia Định, nằm cạnh dòng sông Thị Nghè (Cầu Bông) và đã sở hữu ngôi đền thờ Thành hoàng từ trước khi Lăng Ông xuất hiện. Chính sự trùng hợp này khiến không ít người lầm tưởng đây là nơi chôn cất của một cặp vợ chồng mang tên Chiểu. Tuy nhiên, sự thật đây là nơi an nghỉ và thờ tự của Tả quân Lê Văn Duyệt cùng phu nhân.
Kiến trúc tổng thể của khu lăng mộ và đền thờ
Toàn bộ khu di tích trải rộng trên một diện tích hơn một héc-ta, được bao bọc bởi những bức tường kiên cố, không gian bên trong rợp bóng mát của nhiều cây cổ thụ. Lăng nằm ở vị trí đắc địa ngay góc giao lộ giữa đường Đinh Tiên Hoàng và Phan Đăng Lưu thuộc quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.
Khi bước qua cổng Tam quan bề thế và vượt qua một khoảng sân rộng, du khách sẽ nhìn thấy hai ngôi mộ nấm hình tròn được thiết kế đơn giản nhưng có kích thước khá lớn. Chung quanh mộ có tường bao bảo vệ, phía trước dựng tấm bình phong và hai con nghê đá đứng chầu uy nghiêm hai bên. Ngay phía trước phần mộ là nhà bia, bên trong lưu giữ tấm bia đá cẩm thạch lớn được dựng từ năm Thành Thái thứ 6 (1896).
Khu lăng thờ có cấu trúc cao ráo, rộng rãi với chiều dài hơn 80 m, được phân chia thành các khu vực rõ rệt:
- Nhà hương: Nơi dành cho khách thập phương dừng chân thắp hương, dâng hoa quả cùng các lễ vật kính tế.
- Trung điện: Nơi sắp đặt bàn thờ, bố trí các loại đồ lễ bộ trang trọng cùng chiêng trống.
- Chánh điện: Nằm ở khu vực phía trong cùng. Phần hậu cung thuộc chánh điện đã được xây dựng nối rộng thêm vào năm 1973.
Tại không gian gian chính giữa chánh điện là bàn thờ Tả quân Lê Văn Duyệt, nơi lưu giữ bức họa truyền thần của ông được vẽ từ thời kỳ ông còn làm Tổng trấn Gia Định. Phía bên phải là ban thờ cụ Phan Thanh Giản có di ảnh mặc triều phục trang trọng và đội mũ cánh chuồn. Phía bên trái là nơi thờ ông Lê Chất. Để có được quy mô bề thế như hiện tại, Lăng Ông đã trải qua ba kỳ trùng tu lớn vào các mốc thời gian năm 1927, 1937 và 1973. Phía trước lăng sở hữu khoảng sân rộng rãi, được trưng bày nhiều chậu cây kiểng và hàng chục lư hương cỡ lớn để bá tánh cắm hương, giúp khói không bị tích tụ quá nhiều trong các điện thờ.
* Ghi chú lịch sử về nhân vật phối thờ: Ông Lê Chất (hay Lê Văn Chất theo sách Hoàng Lê nhất thống chí, hoặc Lê Tôn Chất theo Gia Định thành thông chí) quê quán ở Bình Định, vốn là một võ tướng tài ba của nhà Tây Sơn. Khi nhà Tây Sơn suy vi, do cha vợ là Lê Trung bị triều đình tình nghi và sát hại, ông đã bỏ trốn rồi theo phò tá Nguyễn Ánh. Sau đó, ông được phong làm Đô thống chế rồi giữ chức Tổng trấn Bắc Thành, mất năm 1826. Mười lăm năm sau, do những nghi kỵ, vua Minh Mạng đã phán quyết san bằng mộ phần của ông, cho dựng bia đá khắc dòng chữ “Chỗ này là nơi Lê Chất phục pháp”. Đến thời vua Tự Đức, ông mới chính thức được minh oan và truy phục lại chức tước cũ.
Thân thế và sự nghiệp của Tổng trấn Lê Văn Duyệt
Theo những ghi chép trong sách Đại Nam nhất thống chí, Lê Văn Duyệt bẩm sinh mang dị tật ẩn cung (ái nam, ái nữ), từ nhỏ đã vô cùng say mê võ nghệ, trò đá gà và môn nghệ thuật hát bội. Ông nội của ông là Lê Văn Hiến cùng người cha Lê Văn Toại vốn gốc Quảng Ngãi, sau đó di cư vào Nam định cư tại thôn Hòa Khánh gần vàm Trà Lọt, Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Đây cũng chính là mảnh đất nơi Lê Văn Duyệt chào đời, về sau gia đình ông mới chuyển đến định cư ở vùng Rạch Gầm.
Lớn lên, Lê Văn Duyệt không đam mê việc học chữ dù gia đình có mời thầy đồ về dạy, ông chỉ thích tập trung luyện võ và săn bắn. Ông theo phò tá Nguyễn Ánh, lập được nhiều võ công hiển hách và được phong đến chức Tả quân. Dưới hai triều đại Gia Long và Minh Mạng, vị danh tướng họ Lê đã hai lần được giao trọng trách giữ chức Tổng trấn Gia Định.
Trong thời gian trị vì, Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã dồn nhiều tâm huyết mở mang bờ cõi nông nghiệp, chú trọng phát triển hệ thống thủy lợi và giao thông, tổ chức các cuộc khẩn hoang quy mô lớn, đồng thời đốc suất Thoại Ngọc Hầu chỉ đạo việc đào kênh Vĩnh Tế ở An Giang. Ông thường răn dạy các tả hữu thân cận: “Muốn trừ trộm cướp không gì bằng nuôi dân, muốn nuôi dân không gì bằng cho dân có ruộng đất để cày”.
Về mặt trị an, ông chủ trương duy trì các tập tục tốt đẹp, bảo vệ những người dân lương thiện, đồng thời áp dụng những hình phạt cực kỳ nghiêm khắc đối với bọn bất lương, trộm cắp. Nhờ sự cai trị nghiêm minh và lòng thương dân, đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn đã nhanh chóng phát triển thành một trung tâm thương mại sầm uất và phồn thịnh bậc nhất. Thực tế đó đã được tác giả cuốn sách Gia Định thành thông chí ghi lại rõ nét: “Nhà cửa, phố xá liên tiếp, người Hoa, người Việt ở chen nhau, phố dài ba dặm, hàng hóa đủ trăm thứ”.
Mặc dù có công tích vô cùng lớn lao với nhà Nguyễn, nhưng sau khi tạ thế, ông lại bị vua Minh Mạng kết án “bảy tội đáng chém”, ra lệnh san phẳng mồ mả và khắc đá dựng bia ở trên với dòng chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (nghĩa là Chỗ này là nơi hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu hình phạt). Người dân thời bấy giờ còn truyền tai nhau rằng phần mộ của ông bị xiềng bằng những dây xích sắt, nhiều người trong thân tộc của ông cũng bị giết hoặc bị đày ải xa xứ.
Mãi cho đến khi vua Tự Đức lên ngôi, triều đình mới chính thức giải oan cho ông, ra dụ xóa bỏ các án cũ, lệnh cho chính quyền địa phương đắp lại phần mộ, truy phục lại nguyên hàm và đưa vào thờ tự ở Trung Hưng Công thần miếu. Chính những biến cố lịch sử thăng trầm này đã dệt nên nhiều huyền thoại xung quanh cuộc đời ông, nâng tầm ông lên thành một vị phúc thần trong lòng nhân gian. Người dân Việt và người Hoa ở thành phố này cùng nhiều tỉnh Nam Bộ đã chung tay góp công, góp của để phục dựng lại mồ mả, xây nên khu lăng thờ trang nghiêm cho Tả quân cùng phu nhân. Suốt hơn một thế kỷ rưỡi qua, hằng năm cứ đến ngày mồng 1 tháng 8 âm lịch, dòng người từ khắp nơi lại đổ về Lăng Ông để làm lễ tưởng niệm với sự thành kính và lòng biết ơn sâu sắc.
Kỳ lễ hội giỗ Tả quân Lê Văn Duyệt
Hằng năm, tại Lăng Ông diễn ra hai kỳ lễ hội quy mô lớn. Đầu tiên là ngày giỗ Tả quân vào ngày mồng 1 tháng 8 âm lịch và tiếp theo là kỳ hội đầu xuân tổ chức vào các ngày mồng 1, mồng 2 Tết Nguyên Đán.
Nếu xét riêng về phương diện các lễ hội tưởng niệm các nhân vật lịch sử, đây được coi là lễ hội có quy mô lớn nhất tại đất Gia Định xưa cũng như toàn vùng đất Nam Bộ ngày nay. Chuỗi tế lễ được bắt đầu từ ngày 30 tháng 7 và kéo dài cho đến hết ngày 3 tháng 8 âm lịch. Lượng người hành hương tham dự lễ hội có thể lên đến hàng chục vạn.
Trong suốt những ngày hội tại trung tâm quận Bình Thạnh, dòng người hành hương từ khắp các nơi tấp nập đổ về lăng không ngớt bất kể ngày đêm. Khách đi lễ không chỉ bao gồm cư dân nội thành thành phố, mà còn có rất nhiều khách thập phương từ các tỉnh thành xa xôi cũng lặn lội về dự hội.
Một điểm đặc biệt đáng chú ý là trong số lượng du khách đi lễ, số đồng bào người Hoa chiếm tỷ lệ khá cao, khoảng 50%. Hiện tượng này bắt nguồn từ một nguyên nhân lịch sử sâu xa. Họ đến đây dâng hương và cầu khẩn với lòng sùng kính tuyệt đối nhằm tạ ơn một vị phúc thần thần tượng. Bởi lúc sinh thời, khi làm Tổng trấn Gia Định, Lê Văn Duyệt đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách mang tính nâng đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Hoa phát triển nghề nghiệp, giúp họ an cư lạc nghiệp trên mảnh đất quê hương thứ hai. Chính vì lẽ đó, cộng đồng người Hoa đã tôn xưng Tả quân là “Phò mã gia gia” và coi ông như một vị thần có vị thế ngang hàng với ông Bổn trong lịch sử Trung Hoa.
Song song với đó, đồng bào người Việt thường gọi khu lăng thờ trang nghiêm này bằng cái tên cung kính là Lăng Ông hoặc Lăng Ông Thượng. Lễ hội Lăng Ông không chỉ phản ánh những ký ức sâu đậm của nhân dân về công cuộc khai phá và xây dựng vùng đất Gia Định xưa, mà còn gắn liền với cuộc đời của một nhân vật lịch sử có công lao vĩ đại nhưng lại phải chịu nhiều oan khuất sau khi mất.
Trong sách Liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn có lưu lại một giai thoại huyền bí: “Từ năm Minh Mạng thứ 16, sau khi thành Phiên An (tức thành Gia Định) bị hạ, gặp đêm thanh vắng hay lúc trời âm u, người ở gần mộ Lê Tả quân có nghe tiếng ma quỷ rên khóc, có tiếng ngựa xôn xao, khiến cư dân chẳng dám đến gần, kẻ đi đường cũng lánh xa. Đến lúc phần mộ được trùng tu thì những tiếng rên rỉ kia mới được êm dứt…”
Chính vì vậy, việc ngày giỗ kỵ của vị danh tướng kiêm Tổng trấn Gia Định gắn liền với nghi thức tế lễ kỳ yên không phải là điều ngẫu nhiên. Đây vốn là một hình thức tế lễ cổ truyền quen thuộc ở các đình làng Nam Bộ, mang nội dung cốt lõi là cầu nguyện cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, giúp mọi người và mọi nhà làm ăn phát đạt, cuộc sống yên vui, hạnh phúc.
Trình tự các nghi thức tế lễ nghiêm trang
Các nghi thức được mở đầu bằng lễ Túc yết vào đêm ngày 30 tháng 7, do vị chánh tế và bồi tế trực tiếp điều hành cùng sự tham gia phối hợp của đội học trò lễ. Trong quá khứ, ban tế tự có tục cúng “tĩnh sanh” bằng một con heo đen tuyền làm thịt để nguyên con đặt lên bàn cúng, tuy nhiên ngày nay tục lệ này đã được giản lược để phù hợp với thời đại mới. Sau khi các vị chánh tế và bồi tế hoàn thành việc kiểm soát kỹ lưỡng các tế phẩm dâng cúng tại các bàn thờ, nghi thức dâng hương chính thức bắt đầu. Tiếp sau ba hồi trống nhỏ báo hiệu, tiếng chiêng trống bắt đầu nổi lên dõng dạc, lễ dâng hương diễn ra trang trọng trong tiếng nhạc lễ ngân vang.
Sau khi trải qua ba tuần rượu (sơ hiến, á hiến và chúng hiến) sẽ tiếp tục tiến đến tuần trà. Việc đọc bài văn tế có thể do vị chánh tế hoặc bồi tế đảm nhận, hoặc ban quý tế sẽ lựa chọn một người có giọng xướng tốt nhất trong số các học trò lễ để thực hiện.
Nghi lễ Chánh tế chính thức bắt đầu từ sáng ngày mồng
