Lễ hội Đức Trần Hưng Đạo: Hành trình tâm linh từ Bắc vào Nam

Đối tượng suy tôn: Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Địa điểm: 1. Hội đền Kiếp Bạc (Hải Dương)
2. Hội đền Bảo Lộc (Nam Định)
3. Hội đền Yên Cư (Ninh Bình)
4. Hội đền Trần Hưng Đạo (Thành phố Hồ Chí Minh)
Thời gian: Chính hội: 20 tháng tám (ngày mất).
Đặc điểm: Diễn ra ở nhiều nơi trên đất nước.

Sinh năm 1228 trong một gia tộc quý tộc quyền thế, ngay từ thời thơ ấu, Trần Quốc Tuấn đã sớm bộc lộ phẩm chất của một bậc kỳ tài. Càng trưởng dung, ông càng chứng tỏ sự thông minh vượt bậc, đạt đến độ văn võ song toàn. Thời điểm được hoàng đế tin tưởng giao phó trọng trách Tiết chế, ông đã khéo léo quy tụ và trọng dụng nhiều hiền tài cho đất nước như Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu hay Dã Tượng.

Đối với con đẻ, ông là một tấm gương làm cha nghiêm minh, mực thước. Trong mối quan hệ với anh em họ hàng, ông luôn thể hiện sự độ lượng, khiêm tốn. Đối với cấp dưới, vị thống soái này cư xử bao dung, hòa ái nhưng vẫn giữ vững kỷ cương phép nước. Riêng với bậc bề trên, ông luôn khẳng khái, mẫn tiệp và giữ trọn lòng thủy chung, cống hiến hết tâm sức vì cuộc sống của nhân dân và sự hưng thịnh của quốc gia.

Là vị tướng trụ cột gánh vác giang sơn nhà Trần, ông đồng thời là tác giả của hai bộ sách quân sự kinh điển: Binh thư yếu lượcVạn Kiếp tông bí truyền thư. Nhờ tài đức vẹn toàn, ông đã ba lần lãnh đạo quân dân đánh đuổi các cuộc đại xâm lăng của đế chế Nguyên Mông ra khỏi bờ cõi vào các mốc lịch sử năm 1258, 1285 và 1288. Sau khi ông qua đời, vương triều đã truy phong cho ông tước hiệu Hưng Đạo Đại vương, đồng thời lập đền thờ ông tại vùng đất Vạn Kiếp, Chí Linh. Trần Quốc Tuấn chính là biểu tượng mẫu mực cho con người Việt Nam trung hiếu vẹn toàn, một vị anh hùng dân tộc kiệt xuất và một danh nhân văn hóa lỗi lạc.

Hội đền Kiếp Bạc (Chí Linh, Hải Dương)

Khu di tích đền Kiếp Bạc tọa lạc tại xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương từ lâu đã nổi tiếng là một danh lam thắng cảnh trang nghiêm và được Nhà nước xếp hạng di tích quốc gia. Cảnh sắc thiên nhiên nơi đây như thể được tạo hóa sắp đặt riêng để tôn vinh vị anh hùng dân tộc với một không gian tuyệt mỹ. Ngôi đền chọn vị trí tựa lưng vào núi Rồng hung vĩ, phía trước mặt nhìn ra dòng sông Lục Đầu mênh mông sóng vỗ. Hướng đông nam của di tích tiếp giáp với quần thể núi Phả Lại, núi Phượng Hoàng và danh thắng Côn Sơn – vốn là những địa danh lịch sử nổi tiếng từ thời Lý – Trần. Di chuyển ra xa hơn một chút là đền thờ Phiêu Kỵ tướng quân Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Cách đó không xa chính là địa điểm từng diễn ra Hội nghị Bình Than vào tháng 11 năm 1282, nơi các vương hầu cùng bách quan triều đình họp bàn kế sách giữ nước.

Từ vị trí Kiếp Bạc, việc di chuyển theo cả đường thủy lẫn đường bộ để về kinh đô, ra biển lớn, lên phương Bắc hay xuôi xuống vùng đồng bằng đều vô cùng thuận tiện. Hệ thống thung lũng tự nhiên nối liền với sông Lục Đầu có khả năng tập kết hàng vạn quân bộ chiến cùng hàng ngàn chiến thuyền thủy binh. Chính vì lợi thế chiến lược này, Hưng Đạo Vương đã lựa chọn nơi đây để xây dựng phủ đệ và thiết lập quân doanh ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất kết thúc (1258).

Để đến với khu di tích, hành khách di chuyển bằng ô tô từ Hà Nội dọc theo quốc lộ 1A tới Bắc Ninh (khoảng 30 km), sau đó tiếp tục hành trình theo quốc lộ 18 hành trình Bắc Ninh – Phả Lại dài 18 km là tới nơi.

Kiến trúc đền và câu đối kiếm khí

Ngôi đền được khởi công xây dựng vào năm Canh Tý (1300), ngay sau khi Đức Thánh Trần tạ thế. Phần cổng đền mang dáng vẻ uy nghi, bề thế với bức đại tự đặt trên cổng tam quan khắc bốn chữ lớn: “DỮ THIÊN VÔ CỰC” (mang ý nghĩa: Sự nghiệp này sẽ còn mãi vững bền cùng trời đất). Ngay phía dưới là hàng chữ “Trần Hưng Đạo Vương từ”. Ở vị trí thấp hơn tại hai bên cổng là đôi câu đối mang đậm hào khí:

“Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí,
Lục Đầu vô thủy bất thu thanh.”

(Dịch nghĩa: Vạn Kiếp núi lồng hình kiếm dựng / Lục Đầu vang dậy tiếng quân reo)

Mảnh đất bằng phẳng nằm ngay trước đền được gọi là Bãi Kiếm. Nơi đây chính là địa danh lịch sử mà Ngài đã bêu đầu xử tử tên tướng giặc Phạm Nhan – kẻ nổi tiếng gian ngoan với nhiều bùa phép ma mị.

Không khí trẩy hội mùa thu

Hoạt động hành hương về hội Kiếp Bạc để tưởng nhớ Đức Thánh Trần từ nhiều thế kỷ qua đã ăn sâu vào nếp sống của người dân Việt Nam. Mặc dù ngày kỵ chính thức của Ngài vào ngày 20 tháng 8 âm lịch mới là chính hội, nhưng ngay từ ngày 16, thậm chí từ ngày 10 tháng 8, du khách thập phương đã nô nức kéo về lên tới hàng vạn người. Hàng ngàn con thuyền đậu san sát, chật kín cả bến sông, làm sống lại hình ảnh những đoàn chiến thuyền năm xưa của quân đội Đại Việt anh hùng.

Tiếng thơm của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lan tỏa rộng khắp. Không chỉ người dân vùng đồng bằng, mà cả đồng bào các dân tộc thiểu số từ vùng núi cao hay miền duyên hải xa xôi (Hòa Bình, Tây Bắc, Đông Bắc, Việt Bắc…) cũng hội tụ về đây, cùng tưởng nhớ vị anh hùng chung của đất nước đa dân tộc.

Do lượng người đổ về quá đông, khuôn viên ngôi đền dù rộng lớn cũng trở nên chật hẹp. Người dân phải sắp lễ cúng bái ở khắp nơi, từ khoảng sân gạch cho đến bên những gốc cây cổ thụ. Sự bề bộn này một phần xuất phát từ việc khách trẩy hội quá tải, phần khác lại phản ánh những nét văn hóa cổ xưa. Trong quá khứ, khách đi hội thường thích tham gia vào các nghi thức lên đồng, hầu bóng cùng các hình thức ma thuật với mong muốn cầu xin Ngài ban phúc lộc, giúp tai qua nạn khỏi. Nhận thấy điều này làm giảm đi ý nghĩa tôn vinh tài năng và nhân cách cao đẹp của vị anh hùng, ngày nay các hoạt động trên đã được bãi bỏ, hội chỉ tập trung vào việc tưởng niệm, dâng hương trang nghiêm, lễ tế và rước kiệu.

Khách hành hương ghé thăm đền vào những ngày trước hoặc sau dịp chính hội có thể xin phép ban khánh tiết để vào nội điện chiêm ngưỡng những pho tượng đồng quý giá. Thấp thoáng sau làn khói hương nghi ngút và ánh đèn nến lung linh, tượng Ngài an tọa đầy uy nghiêm ở vị trí chánh cung. Bên cạnh là tượng phu nhân – công chúa Thiên Thành. Phía bên kia là tượng công chúa Quyên Thanh – con gái trưởng (vợ vua Trần Nhân Tông), tiếp liền là công chúa Anh Nguyên – con gái thứ hai (vợ tướng quân Phạm Ngũ Lão). Ở các bệ thờ hai bên là tượng của con rể Phạm Ngũ Lão cùng hai vị gia thần trung thành là Dã Tượng và Yết Kiêu. Toàn bộ 7 pho tượng thờ này đều được đúc bằng chất liệu đồng tinh khiết.

Nghi thức rước thủy binh hào hùng

Sau các nghi thức dâng hương mở màn là phần đại lễ chính thức. Tiếng chiêng trống rền vang hòa cùng tiếng pháo nổ liên tục từ các đoàn khách tạo nên bầu không khí hội vô cùng náo nhiệt. Khi phần tế xong, các đội kiệu, cờ, tàn, lọng cùng đầy đủ nghi trượng đã sẵn sàng tập kết tại sân đền. Ba hồi chiêng trống dứt điểm, đám rước bắt đầu chuyển mình di chuyển, trông lộng lẫy và rực rỡ như một rừng hoa di động. Bức chân dung Đức Thánh Trần đặt trang trọng trên kiệu chính là trung tâm của đoàn rước, xung quanh là các đội múa rồng, múa lân uyển chuyển lượn vòng.

Băng qua cổng Tam quan, đám rước hướng thẳng ra phía bờ sông. Quang cảnh ấy gợi cho người xem liên tưởng đến một cuộc hành quân trống dong cờ mở của những đạo hùng binh Đại Việt dưới sự chỉ huy của vị chủ soái thiên tài từ 7 thế kỷ trước, chuẩn bị bước vào trận thủy chiến Bạch Đằng năm 1288. Đoàn rước tuần tự tiến xuống bến và bước lên những chiếc thuyền lớn đã được trang hoàng cờ hoa rực rỡ. Kiệu Đức Thánh được cung nghinh lên thuyền rồng chủ đạo, sau đó toàn bộ đoàn thuyền lần lượt rời bến. Tiếng pháo, tiếng loa, tiếng chiêng trống cùng tiếng tù và cùng vang lên rộn rã, làm náo động cả một khúc sông dài. Đoàn thuyền hoa di chuyển trông tựa như một đàn rồng đang lướt đi trên sóng nước, kéo dài suốt chặng đường hơn 2 km trong tiếng hò reo vang dội của nhân dân đứng dọc hai bên bờ. Cuộc diễu hành thủy binh độc đáo này kết thúc vào khoảng cuối giờ Mùi. Khi đoàn thuyền cập bến, đám rước lại lên bộ, cung nghinh chân dung Ngài trở về đền để làm lễ tạ, khép lại ngày hội lớn.

Quang cảnh hoành tráng này được ghi nhận tại lễ hội Kiếp Bạc mùa thu năm 1988, nhân dịp đại lễ kỷ niệm 700 năm chiến thắng quân Nguyên – Mông và 688 năm ngày mất của Trần Hưng Đạo – vị danh tướng với thần danh cao quý được triều đình phong tặng: “Thái sư Thượng phụ Quốc công Nhân võ Hưng Đạo Đại Vương!”.

Hội đền Bảo Lộc (Mỹ Lộc, Nam Định)

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn không chỉ là một nhân vật lừng lẫy trong các trang sử vàng mà đã được nhân dân tôn kính phong Thánh. Chính vì vậy, vào ngày kỵ 20 tháng 8 âm lịch, rất nhiều địa phương khắp cả nước đều tổ chức làm giỗ Ngài. Cùng thời điểm này, tại đền Bảo Lộc thuộc xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định – nơi chính là quê hương bản quán của Ngài, ngày hội cũng được long trọng tổ chức.

Nếu đặt lên bàn cân với hội Kiếp Bạc, hội đền Bảo Lộc có quy mô nhỏ hơn nhưng lại mang đậm không khí ấm áp của tình làng nghĩa xóm và các nghi lễ hướng về cội nguồn tổ tiên. Toàn thể người dân làng Bảo Lộc cùng các làng xã lân cận đều rủ nhau đến thắp nén hương thơm để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với vị tổ của dòng họ đã mang lại vinh quang lớn cho quê hương, đất nước. Kỳ hội này cũng là điểm đến của nhiều du khách từ Nghệ An, Thanh Hóa không có điều kiện hành hương ra tận Kiếp Bạc. Ngược lại, những người sùng tín thường chọn cách tham gia hội Kiếp Bạc cho đến ngày 19, sau đó kịp thời di chuyển về đền Bảo Lộc vào ngày 20 để tưởng niệm Đức Thánh ngay trên mảnh đất quê cha đất tổ của Ngài.

Lễ hội diễn ra trong vòng 3 ngày với đầy đủ các phần tế lễ và rước kiệu trang nghiêm. Trong quá khứ, tại sân đền còn diễn ra các hoạt động hầu bóng, trừ tà khiến không khí ban đêm cũng đông đúc, náo nhiệt không kém gì ban ngày. Tuy nhiên, các hoạt động mang tính chất mê tín này hiện đã được bãi bỏ hoàn toàn.

Hội đền Yên Cư (Yên Khánh, Ninh Bình)

Ngôi đền Yên Cư tọa lạc tại xã Khánh Cư, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình cũng là một địa điểm thờ phụng Đức Thánh Trần và tổ chức hội tưởng niệm Ngài vào ngày 20 tháng 8 âm lịch hằng năm. Để di chuyển từ Hà Nội đến Yên Cư, du khách có thể lựa chọn đi bằng ô tô hoặc tàu hỏa xuôi về phía nam để đến thành phố Ninh Bình (khoảng cách 113 km). Từ trung tâm thành phố, hành khách tiếp tục di chuyển dọc theo tuyến đường liên tỉnh số 10 cho đến khi gặp cây đa Quây là tới địa phận ngôi đền.

Làng Yên Cư vốn có truyền thống kết nghĩa lâu đời với làng Phú Hào nằm ở phía bên kia bờ sông Đáy (thuộc địa phận tỉnh Nam Định). Chính vì mối thâm tình này, vào ngày giỗ Đức Thánh Trần, người dân của cả hai ngôi làng đã cùng nhau phối hợp đứng ra tổ chức phần lễ và đám rước chung. Vào buổi sáng ngày 20 tháng 8, một đám rước long trọng bao gồm 4 chiếc kiệu (kiệu Đức Thánh Trần, kiệu Hưng Đạo Vương phu nhân cùng 2 kiệu của hai vị quận chúa) xuất phát từ đền Yên Cư, vượt qua dòng sông Đáy để tiến sang đình làng xã Phú Hào. Tục lệ của làng có quy định nghiêm ngặt về người khiêng kiệu: “Trai thanh tân chân quỳ, vai kiệu; gái yêu điệu phù giá nữ quan”. Theo đó, chỉ những chàng trai tân trong độ tuổi từ 18 đến 21 mới được ban khánh tiết lựa chọn để khiêng kiệu Đức Thánh, và những cô gái trẻ chưa chồng mới được giao trọng trách khiêng kiệu của các vị nữ thần.

Khi đoàn rước đặt chân đến làng Phú Hào sẽ dừng lại nghỉ trưa tại khu vực đình làng. Sau khi hoàn thành xong các nghi thức tế lễ, hội đồng xã sẽ tổ chức tiệc khoản đãi đoàn rước bằng các nghi thức vô cùng trang trọng nhưng không kém phần thân tình, ấm áp như những người anh em ruột thịt một nhà. Đến thời điểm xế chiều, đám rước bắt đầu hành trình quay trở về đền Yên Cư để làm lễ tạ ơn thần linh.

Hiện tượng “cá quần” kỳ thú trên sông Đáy

Có một hiện tượng vô cùng kỳ lạ và đặc biệt tại hội đền Yên Cư luôn thu hút sự tò mò của du khách thập phương, đó là hiện tượng “cá quần”. Đến nay, vẫn chưa có một lời giải thích khoa học nào thực sự thuyết phục về hiện tượng này. Dưới góc độ dân gian, người dân truyền tai nhau rằng cứ vào đúng buổi sáng ngày giỗ Đức Thánh (ngày 20 tháng 8), một đàn cá với số lượng đông đúc từ khắp các ngả sông sẽ cùng nhau tụ hội về khúc sông Đáy nằm ngay trước cửa đền. Chúng liên tục nhô đầu lên mặt nước, múa lượn và bơi quẩn quanh tạo nên một cảnh tượng vô cùng đẹp mắt. Vì lý do này, du khách khi về tham dự hội Yên Cư thường có thói quen mua quà để cho “cá quần” ăn. Món quà quen thuộc đó là những nắm bỏng (làm từ ngô rang ngào mật rồi vo thành từng nắm nhỏ, món ăn vặt phổ biến tại các chợ quê Bắc Bộ xưa). Người dân ném xuống bao nhiêu bỏng thì đàn cá dưới sông đều đớp hết bấy nhiêu.

Người ta rỉ tai nhau rằng đây chính là đàn cá thần bơi về từ dòng sông Bạch Đằng lịch sử – nơi từng ghi dấu chiến công lẫy lừng của quân dân nhà Trần dưới sự chỉ huy của Đức Thần. Vì nhớ ngày giỗ của vị chủ soái, chúng đã lội ngược dòng nước về đây để tham gia buổi tưởng niệm cùng con người. Do quan niệm đây là đàn cá thần, tuyệt nhiên không một ai trong vùng tổ chức quây lưới hay đánh bắt, đồng thời người dân cũng kiêng ăn thịt loại cá này. Lễ hội đền Yên Cư chỉ diễn ra duy nhất trong ngày 20 tháng 8.

Hội đền Đức Trần Hưng Đạo (Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

Tại khu vực miền Nam, tấm lòng ngưỡng mộ đối với vị anh hùng dân tộc cũng vô cùng sâu sắc khi nhiều nơi lập đền thờ Ngài, tiêu biểu như tại thành phố Nha Trang hay Thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống tượng đài của Ngài cũng được trang trọng dựng lên ở nhiều địa điểm nổi tiếng như trên núi Phương Mai (Quy Nhơn), tại thành phố Vũng Tàu, bến Bạch Đằng và đặc biệt là ngôi đền thờ tọa lạc tại số 36 đường Võ Thị Sáu (Thành phố Hồ Chí Minh). Hằng năm, người dân phương Nam vẫn đều đặn mở hội tưởng niệm Ngài vào dịp 20 tháng 8 âm lịch.

Ngôi đền thờ có quy mô lớn nhất ở phía Nam nằm tại số 36 đường Võ Thị Sáu, Phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh với khuôn viên rộng khoảng 2.000 m². Mảnh đất này trong quá khứ vốn là nền của chùa Vạn An – một ngôi chùa cổ có quy mô nhỏ nhưng luôn tấp nập khách đến chiêm bái. Từ năm 1932, đền thờ Trần Hưng Đạo bắt đầu được khởi công xây dựng ngay sát bên cạnh ngôi chùa này với lối kiến trúc ban đầu còn khá đơn sơ. Đến năm 1958, toàn bộ khuôn viên đền cũ và chùa Vạn An được dỡ bỏ để xây dựng nên một ngôi đền thờ mới to lớn, khang trang hơn. Qua nhiều đợt trùng tu và sửa chữa lớn nhỏ, vóc dáng cùng các đường nét kiến trúc tổng thể của công trình vẫn gìn giữ được quy mô của kiến trúc nguyên bản.

Hệ thống lối vào của đền gồm hai cổng cùng hướng ra mặt đường Võ Thị Sáu với một cổng chính và một cổng phụ. Cửa cổng chính chỉ được mở vào các ngày rằm, ngày ba mươi âm lịch hằng tháng hoặc trong những dịp đại lễ lớn, riêng lối cổng phụ luôn mở cửa thường trực để tiếp đón khách vãng lai ghé thăm mỗi ngày. Phía trên vòm cổng chính có khắc bốn chữ Hán cỡ lớn: HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG, đi kèm hai bên trụ cổng là đôi câu đối:

“Liệt oanh oanh, miễn hoài vĩ tích quan Trần sử;
Dương dương hách, cảnh ngưỡng linh quan nhập miếu môn.”

(Dịch nghĩa: Xem sử nhà Trần, nhớ mãi những chiến tích oanh liệt tích tụ lại / Vào cửa miếu, thấy ánh sáng linh thiêng tỏa rạng ra)

Khu vực sân đền được thiết kế thoáng rộng, lát gạch gốm tông màu nâu, đóng vai trò là nơi tập trung cho du khách vào các ngày lễ lớn hoặc tổ chức các hoạt động văn hóa cộng đồng. Ngay vị trí đầu sân là bức tượng Trần Hưng Đạo đứng uy nghi, được đúc bằng chất liệu xi măng tô màu đen pha sắc vàng. Ngôi đền chính sở hữu cấu trúc mặt bằng hình chữ “đinh” (T) với diện tích rộng khoảng 200 m², thiết kế ba dãy cửa nối liền nhau nhìn ra khoảng sân lớn, phía trên khắc dòng chữ Hán: “HIỂN THÁNH TRẦN TRIỀU HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG LINH TỰ” (Đền thờ linh thiêng của bậc hiển thánh Hưng Đạo Đại Vương người triều Trần).

Không gian thờ tự bên trong nội điện

Bước vào không gian đại sảnh, du khách sẽ bắt gặp rất nhiều bức hoành phi và câu đối cổ ca ngợi tài năng, đức độ cùng những chiến công hiển hách của ông gắn liền với các địa danh lịch sử như Kiếp Bạc hay dòng sông Bạch Đằng. Nằm ngay trước bàn hương án là đôi nghê đá ngồi chầu đối xứng hai bên, điều đặc biệt là mỗi con nghê đang ngậm một chiếc xương sườn cá voi có chiều dài hơn ba mét, uốn cong tạo thành hình vòng cung đầy uy nghiêm. Khu vực phía sau bàn hương án là nơi thờ tự các vị tướng lĩnh, hào kiệt tài ba đã có công trạng lớn với đất nước dưới vương triều Trần như Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng… Phía trên cao của bàn hương án treo bức hoành phi lớn mang dòng chữ: “TRẦN TRIỀU HIỂN THÁNH”.

Bên cạnh hương án sắp đặt hai hàng cờ quạt, các loại tàn lọng, đồ bát bửu, bộ lỗ bộ cùng hai mô hình ngựa thờ mang hai màu sắc hồng và bạch. Trên cùng là một tấm biển gỗ lớn có chạm khắc hàng chữ đại tự: “VẠN CỔ GIANG SƠN” (Non nước muôn đời bền vững).

Tại khu vực nội điện – gian thờ cốt lõi của công trình – bức tượng Đức Trần Hưng Đạo bằng chất liệu đồng được an tọa trang trọng ở vị trí trung tâm. Tượng tạc Ngài trong tư thế ngồi uy nghiêm, khoác trên mình bộ võ phục chỉnh tề với chiều cao 1,70 m và chiều ngang 1 m, trên tay Ngài đang cầm quyển binh thư và một thanh kiếm bạc được dựng uy nghi ngay bên cạnh. Pho tượng quý này do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng vùng Ngũ Xã thực hiện chế tác vào năm 1957.

Phía bên trái của nội điện đặt bàn thờ cùng bài vị của hai người con gái của Ngài (người con gái lớn về sau trở thành hoàng hậu của vua Trần Nhân Tông và người con gái nuôi là phu nhân của tướng quân Phạm Ngũ Lão). Phía bên phải là không gian thờ phụng bốn người con trai của Ngài, bao gồm: Hưng Vũ Vương Quốc Hiến, Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng, Hưng Trí Vương Quốc Nghiễm và Hưng Hiến Vương Quốc Uy. Dọc theo các bức vách trong nội điện trang trí nhiều bức phù điêu sơn son thếp vàng được chạm trổ vô cùng công phu, tái hiện lại những sự kiện lịch sử trọng đại thời nhà Trần như: Hội nghị Diên Hồng, Lời thề trên bến sông bãi, Trận thủy chiến oai hùng trên sông Bạch Đằng…

Nằm ở phía bên phải khoảng sân đền là một tòa nhà bảo tàng có quy mô nhỏ. Không gian bên trong là nơi trưng bày và lưu giữ một số hiện vật cổ, các văn bản tư liệu, bản đồ tác chiến, đoạn trích của bài Hịch tướng sĩ cùng những lời khuyên răn đầy chân tình, sâu sắc mà Trần Hưng Đạo đã dâng lên vua Trần, thể hiện rõ nét tư tưởng yêu nước thương dân sâu sắc.

Kỳ đại lễ tưởng niệm và hội xuân rộn ràng

Mỗi năm, lễ hội tưởng niệm Trần Hưng Đạo tại đây được tổ chức vào ngày 20 tháng 8 âm lịch, thu hút hàng ngàn lượt khách thập phương trong thành phố và các tỉnh thành khác về tham dự. Tuy nhiên, thời điểm đông đúc và náo nhiệt nhất tại đền phải kể đến những ngày hội xuân đầu năm, kéo dài từ chiều ba mươi Tết cho đến hết ngày mồng ba tháng Giêng.

Trong suốt ba ngày đêm của kỳ hội xuân, hàng chục ngàn người hành hương đã cùng nhau đổ về đền để thắp hương, cúng bái và tưởng nhớ vị anh hùng kiệt xuất đã có công lao to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Một điểm đặc sắc là toàn bộ các nghi thức tế lễ diễn ra tại ngôi đền này trong những ngày hội đều được thực hiện đầy đủ, trọn vẹn theo phong tục tập quán truyền thống của cả ba miền Bắc, Trung và Nam.