Đối tượng suy tôn: Lê Thái Tổ (Lê Lợi).
1. HỘI TRẬN ĐỀN VUA LÊ
- Địa điểm: Làng Vệ Yên, phường Quảng Thắng, thành phố Thanh Hóa.
- Thời gian: Từ mồng 5 đến mồng 8 tháng Giêng (Chính hội: ngày 6 tháng Tám).
- Đặc điểm: Diễn trận; trò chạy chữ.
2. LỄ HỘI ĐỀN VUA LÊ
- Địa điểm: Xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Thời gian: Ngày 22 tháng Tám.
- Đặc điểm: Hát múa “lý liên” và hội chợ.
Nhìn lại dòng chảy lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do người anh hùng Lê Lợi khởi xướng vào thế kỷ XV luôn được xem là biểu tượng sáng ngời của ý chí kiên cường, tinh thần chịu đựng gian khổ, bền bỉ kháng chiến trường kỳ. Nghĩa quân đã vượt qua muôn vàn thử thách, hiểm nghèo để đánh bại thế lực xâm lược có sức mạnh vượt trội gấp nhiều lần.
Đáng chú ý, vị thủ lĩnh đầy mưu lược và tài năng ấy đã hai lần đứng ra tổ chức các nghi lễ thề vô cùng đặc sắc. Sự kiện đầu tiên chính là Hội thề Lũng Nhai diễn ra vào năm 1416 giữa Lê Lợi và 18 người đồng chí thân cận nhằm nêu cao quyết tâm đánh đuổi giặc Minh, giải phóng giang sơn (Lũng Nhai tức là Lũng Mi, tên nôm gọi là làng Mế, thuộc địa phận xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa; đây là nơi diễn ra sự kiện Hội thề lịch sử vào những ngày đầu tháng 2 năm Bính Thân của tập thể nghĩa quân buổi ban đầu). Lễ thề thứ hai là lễ hội thề Đông Quan, đánh dấu mốc thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp cứu nước, mở ra triều đại mới thịnh trị, thái bình cho toàn thể nhân dân.
Để tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với công đức của vua Lê Thái Tổ, hậu thế ở khắp nơi hằng năm vẫn mở hội tưởng niệm và tôn vinh vị anh hùng. Phần nội dung dưới đây xin giới thiệu chi tiết về hai lễ hội tri ân vua Lê ngay trên đất Lam Sơn, Thanh Hóa – vùng quê hương nguồn cội của Người.
Hội Trận Đền Vua Lê Tại Làng Vệ Yên
Sách sử cũ chép lại rằng, vào năm 1456, vua Lê Nhân Tông đã xa giá về Lam Kinh để cử hành lễ kỷ niệm chiến thắng. Tại đây, nhà vua cho tấu trống đồng, biểu diễn các vũ điệu nhạc múa cung đình quy mô lớn mang tên “Bình Ngô phá trận” và “Chư hầu lai triều” nhằm khắc ghi công lao của thế hệ cha ông. Những trò diễn mang đậm tính chất triều đình ấy dù chỉ được sử sách lưu lại bằng vài dòng ngắn ngủi, nhưng quy cách và nội dung cụ thể ngày nay vẫn được nhân dân gìn giữ qua các mảng ký ức và dư ảnh trong truyền thuyết dân gian.
Khu vực gần Cầu Bố thuộc làng Vệ Yên, phường Quảng Thắng, thành phố Thanh Hóa là nơi tọa lạc của đền thờ vua Lê. Cứ mỗi độ xuân về, dân làng lại tưng bừng mở hội từ ngày mồng 5 đến ngày mồng 8 tháng Giêng âm lịch nhằm tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc.
Nghi Lễ Ngày Khai Hội Và Các Màn Biểu Diễn Võ Thuật
Ngày mồng 5 tháng Giêng bắt đầu bằng nghi thức tế thần. Các bậc chức sắc cùng đông đảo người dân tề tựu về ngôi đền để dâng hương kính cáo.
Đến ngày mồng 6 chính hội, không khí trở nên náo nhiệt từ tờ mờ sáng. Những thanh niên trai tráng khỏe mạnh trong làng, vốn được tuyển chọn và rèn luyện kỹ lưỡng từ trước, đã có mặt đông đủ tại sân đình trong trang phục võ sĩ nghiêm chỉnh. Lúc này, dòng người trẩy hội từ khắp nơi kéo về ngày một đông đúc, khiến không gian sân đình rực rỡ sắc màu của đủ loại cờ từ cờ đại, cờ ngũ hành cho đến cờ đuôi nheo. Phía trong bái đường, các giá cắm đồ lỗ bộ sơn son thếp vàng sau khi được lau chùi bóng bẩy từ hôm trước nay càng thêm uy nghi dưới ánh đèn nến lung linh.
Khi các nghi thức tế lễ và xướng bản văn hoàn tất, vị chủ tế phát lệnh nổi chiêng trống rộn ràng. Từng tốp võ sĩ tiến lên trước hương án lễ thần để nhận binh khí, sau đó di chuyển ra sân đình thực hiện các bài trình diễn võ thuật truyền thống như múa roi, múa kiếm, đi quyền và đấu vật để trình Thánh.
Tái Hiện Trận Đánh Lịch Sử Và Các Trò Chơi Dân Gian
Trong khi các màn diễn võ đang diễn ra ở sân đình, tại khu vực bãi áng phẳng lặng thuộc cánh đồng phía trước cũng được thiết lập một hương án trang trọng. Trên nền cỏ xanh, người ta dùng vôi bột rắc thành bốn chữ Hán lớn: “THIÊN HẠ THÁI BÌNH”.
Sau màn trình diễn võ nghệ trình Thánh, các võ sĩ cùng toàn thể công chúng chuyển ra bãi áng để chuẩn bị cho trò diễn chạy chữ. Ban tổ chức tiến hành bốc thăm để phân chia quân số thành hai phe bằng nhau: quân ta và quân Ngô. Mỗi đội được dẫn dắt bởi một vị tướng chỉ huy giỏi võ thuật và có uy tín trong vùng.
Trước khi chính thức “xung trận”, mỗi bên xếp thành hàng lối ngay ngắn, lần lượt từng người tiến đến trước hương án bái lạy bốn lạy và nhận một chén rượu thánh. Kế tiếp, mỗi đội hình theo hàng một chạy khởi động quanh bãi áng một vòng rồi mới bắt đầu di chuyển theo đường nét chữ vạch vôi đã kẻ sẵn trên sân bãi.
Đồng thời trong khoảng thời gian này, người chủ đám cùng các chức sắc sẽ di chuyển đến đền vua Lê cách đó khoảng một kilômét để dâng hương và rước thần về tham dự. Nghi thức rước thần này được tiến hành ăn khớp với tiến độ chạy chữ, đảm bảo khi chữ vừa chạy xong thì kiệu nghinh thần cũng vừa tới nơi hội.
Đứng trước kiệu thần, hai đoàn quân dàn trận đối mặt nhau và cuộc chiến bắt đầu. Trận đánh diễn ra chủ yếu giữa hai vị tướng chỉ huy, trong khi binh lính xung quanh đứng hò reo cổ vũ, múa cờ và khua vang binh khí. Tiếng trống thúc dồn dập khiến bầu không khí hội trận càng lúc càng tăng thêm độ sôi nổi.
Khi nén hương cháy gần tàn, phe quân Ngô chịu thua và rút chạy đúng như diễn biến lịch sử. Quân ta thừa thắng đuổi sát theo, dồn đối phương vào một góc bãi giữa những tiếng reo hò vang dội của binh sĩ và toàn thể khán giả chứng kiến.
Sau khi cuộc diễn trận kết thúc, trò chơi tung cù (cầu) được mở ra cho tất cả mọi người cùng tham gia. Quả cù có dạng hình cầu, được bện chặt bằng rơm, bọc vải bên ngoài và phết lớp sơn bảo vệ. Tại trung tâm bãi hội, một cây tre cao được dựng lên với thanh ngang ở đỉnh; đầu thanh ngang treo chiếc giỏ bằng nan bọc lụa màu sắc. Một người ngồi dưới gốc tre giữ sợi dây nối liền với chiếc giỏ phía trên để thực hiện động tác giật dây làm chiếc giỏ lắc lư liên tục.
Tiếng chiêng trống vang lên báo hiệu trò chơi bắt đầu. Người chủ đám đón quả cù, hướng vào hương án vái lạy xin phép thần linh, rồi quay ra tung mạnh vào đám đông đang chờ sẵn. Các nam nữ thanh niên cùng những người lớn tuổi xông vào cướp cù để cầu may mắn.
Ai giành được quả cù phải nhanh tay tung vào giỏ treo trên cao. Nếu quả cù rơi ra ngoài, người khác sẽ đón lấy và tiếp tục tung lên, cứ thế cuộc vui kéo dài cho đến khi quả cầu lọt gọn vào trong giỏ mới dừng lại. Người xuất sắc đạt thành tích sẽ được chủ đám ban tặng một chén rượu thánh trong tiếng hoan hô nhiệt liệt của mọi người.
Ngày hội trận đền vua Lê không đơn thuần là dịp ôn lại những chiến tích oanh liệt của cha ông, mà còn góp phần khơi dậy tinh thần thượng võ, rèn luyện chí khí cho thế hệ trẻ và hâm nóng nhiệt tình yêu nước trong nhân dân.
Lễ Hội Đền Vua Lê Tại Di Tích Lam Kinh
Lễ hội này định kỳ tổ chức ba năm một lần tại khu di tích Lam Kinh, thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa – nơi tọa lạc khu lăng mộ của các vị vua nhà Lê. Ngay tại khu vực bến phà Mục Sơn nằm phía trước khu lăng (nay thuộc địa phận xã Xuân Lam), có một ngôi đền nhỏ thờ vua Lê Thái Tổ.
Theo lệ cũ, cứ ba năm một lần vào ngày húy kỵ của nhà vua – ngày 22 tháng Tám âm lịch (như câu ca truyền tụng trong dân gian: “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”), các vị hoàng đế cùng quan chức từ Đông Kinh (Thăng Long) lại xa giá về Lam Sơn làm lễ tế. Trong khi đó, người dân bản địa vẫn duy trì tổ chức hội tưởng niệm người anh hùng hàng năm tại ngôi đền nhỏ này.
Bên cạnh nghi thức tế lễ trang nghiêm như thông lệ, hội đền vua Lê còn lưu giữ phong tục múa hát theo điệu “rí ren” (lý liên) cùng nhiều tích trò độc đáo. Các cặp trai gái tay trong tay vừa hát vừa múa, kết hợp diễn các trò “cắm hoa”, “kết hoa”. Dù trò diễn này về sau từng bị nghiêm cấm, người dân đã thay thế bằng các điệu hát ca công, hát huê tình nhằm tái hiện lại các vũ điệu trong “Bình Ngô phá trận” và “Chư hầu lai triều”.
Đặc biệt, tiếng trống đồng uy nghiêm, vang vọng luôn là một phần không thể thiếu, tạo nên sức hút lớn cho ngày hội. Ngoài sự tham gia đông đảo của người Việt, lễ hội năm nào cũng đón nhận lượng lớn đồng bào dân tộc thiểu số từ các huyện miền núi Thanh Hóa về trẩy hội.
Nhân dịp này, họ mang theo nhiều loại lâm thổ sản quý báu của địa phương như mật ong rừng, nhung hươu, các loại xương thú, da thú, trầm hương, quế, nấm hương, mộc nhĩ cùng các loại cây cỏ làm thuốc… Tất cả hòa trộn tạo nên một phiên chợ giao thương sầm uất giữa miền ngược và miền xuôi, càng làm cho bầu không khí ngày hội thêm phần tưng bừng, náo nhiệt.
