Lễ Hội Đền Hùng Phú Thọ: Hành Hương Về Cội Nguồn Non Sông

  1. Đối tượng suy tôn: Các vua Hùng — những người có công mở nước và dựng nước.

  2. Địa điểm: Núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

  3. Thời gian: Từ ngày 8 đến ngày 11 tháng Ba âm lịch (Chính hội: ngày 10 tháng Ba).

  4. Đặc điểm nổi bật: Là ngày giỗ Tổ của toàn dân tộc Việt Nam và được quy định là ngày Quốc lễ trong năm.

Người Việt mình, dù đi ngược về xuôi, dù lập nghiệp ở bất cứ phương trời nào, cứ hễ chạm đến những ngày cuối xuân tháng Ba là trong lòng lại ngân lên câu ca dao quen thuộc:

“Dù ai đi ngược về xuôi,
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba.”

Cái đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” ấy nó không nằm trên những trang sách giáo khoa khô khan, mà nó thấm vào máu thịt, hiển hiện sinh động qua từng bước chân hành hương của hàng vạn con người đang đổ về núi Nghĩa Lĩnh (xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ). Người trong nghề chúng tôi đi điền dã muôn phương, nhưng mỗi lần đứng dưới chân ngọn núi Hùng linh thiêng, nghe tiếng thông reo hòa cùng mùi trầm hương bảng lảng, mới thực sự cảm nhận được thế nào là khí thiêng sông núi quyện vào mạch sống đương đại.

Đáng chú ý là trên mảnh đất Phú Thọ này, nhân dân đã dành tới 700 nơi thờ cúng các vị vua Hùng cùng dòng dõi, tướng lĩnh của họ, trải đều khắp 200 trong tổng số 350 làng xã của tỉnh. Thế nhưng, đỉnh cao quy tụ tâm thức toàn dân tộc chính là lễ hội Đền Hùng – một ngày quốc lễ mang tầm vóc non sông.

Hành trình vượt ngàn bậc đá: Huyền thoại lồng trong hiện thực

Bước qua Đại môn (cổng đền Lớn) với bức đại tự cổ kính khắc bốn chữ “Cao sơn cảnh hàng” (Núi cao đường lớn), hành trình tìm về cội nguồn bắt đầu bằng những bậc đá nhuốm màu thời gian. Mỗi chặng dừng chân trên đỉnh Nghĩa Lĩnh là một lần ta chạm vào một trang huyền thoại:

  • Đền Hạ: Vượt qua 225 bậc đá, ta tới nơi bà Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, nở thành trăm người con trai. Tích xưa kể rằng Lạc Long Quân dẫn 50 con về xuôi, Âu Cơ đưa 49 con lên ngược, để lại người con trưởng lên ngôi, xưng là Hùng Vương, định đô ở Phong Châu, mở ra triều đại đầu tiên của đất nước.
  • Đền Trung: Đi tiếp 168 bậc nữa là nơi các vua Hùng xưa kia thường cùng các Lạc tướng bàn việc bờ cõi. Cái hay của chốn này là câu chuyện về chàng hoàng tử nghèo Lang Liêu, bằng hạt gạo tự tay mình vun trồng, đã làm nên cặp bánh chưng, bánh giầy vuông tròn dâng lên vua cha ngày Tết Cả để vẹn tròn chữ hiếu.
  • Đền Thượng và Lăng Tổ: Leo thêm 102 bậc đá cao nhất, ta chạm vào đỉnh núi thiêng. Nơi đây vua Hùng cùng các bậc lão làng lập đàn tế trời đất, cầu thần Lúa cho mưa thuận gió hòa. Đây cũng là nơi vua Hùng thứ 6 lập đền thờ Thánh Gióng sau khi dẹp tan giặc Ân. Ngay cạnh đền là ngôi lăng Tổ cổ kính, trầm mặc. Trước điện thờ chếch về bên phải, cột đá thề cao hơn 1 mét vẫn đứng sừng sững – minh chứng cho lời thề trọn đời gìn giữ giang sơn nhà Hùng của Thục An Dương Vương khi tiếp quản vương triều.

Từ đỉnh đền Thượng, phóng tầm mắt ra xa, người xem không khỏi choáng ngợp trước cảnh tượng 99 ngọn núi lớn nhỏ nhấp nhô tựa như bầy voi phục hướng về núi Mẹ Nghĩa Lĩnh. Chỉ duy nhất có một ngọn núi quay lưng lại, người xưa bảo “ăn ở có lòng riêng tư” nên đã bị mất đầu, vĩnh viễn tách khỏi bầy đàn. Cái bài học bằng đá ấy, cha ông lưu lại cho hậu thế ngàn năm sau về lòng trung hiếu, nghĩa tình.

Xuống núi theo lối Đông Nam, ta sà vào đền Giếng để ngắm giếng Ngọc trong vắt. Nơi đây, hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa (con gái vua Hùng thứ 18) thuở xưa hằng ngày vẫn soi bóng, chải tóc, vấn khăn trước khi đi vào những thiên tình sử của dân tộc.

Nghi thức “Kiệu bay” rập rình và lễ vật khao Tổ

Hội Đền Hùng diễn ra từ mùng 8 đến ngày 11 tháng Ba âm lịch, và ngày mùng 10 chính là ngày chính hội. Sau phần quốc lễ trang nghiêm của các bậc lãnh đạo vào sáng mùng 10, không gian Nghĩa Lĩnh thực sự bùng nổ bởi các đám rước của các làng sở tại.

Theo lệ làng cổ truyền, ba ngôi làng gốc là làng Cổ (Cổ Tích), làng Vi (Vi Cương) và làng Trẹo (Triệu Phú) cùng rước kiệu về đền. Đám rước lỉnh kỉnh voi nan, ngựa gỗ với ngụ ý muôn loài quy phục đức vua, đồng thời tái hiện lại cảnh tượng Sơn Tinh mang quân giá đi đón dâu công chúa Ngọc Hoa xưa kia. Trên mâm cỗ chay và ngũ quả dâng kính, tuyệt đối không thể thiếu cặp bánh chưng, bánh giầy để nhắc nhở con cháu về thuở các vua Hùng dạy dân cày ruộng, trồng lúa.

Nói thì dễ chứ gặp những năm mưa thuận gió hòa, các làng lân cận như Chu Hòa, Sơn Vi, Do Nghĩa, Diễm Lâu, Tiên Cát… rước được ngai thờ qua sông Lô về dự hội mới thấy hết cái không khí nô nức. Lễ vật lúc này ngoài bánh trái còn có cỗ “tam sinh” đặc trưng: lợn sống cạo sạch lòng, phủ kín mỡ chài toàn thân; bò và dê thui vàng nguyên con, bày biện cùng xôi ngũ sắc và rượu mộng thơm nức.

Cái thú nhất của người xem hội là được ngắm những chiếc kiệu Bát cống, kiệu Long đình di chuyển. Điều khiển đám rước là hai ông hiệu cờ mặc áo võ đen thêu rồng mây, vai cắm cờ đuôi nheo, cùng ông hiệu trống mang trống khẩu giữ nhịp. Cứ khoảng 15 phút, trống chiêng lại đánh ba hồi đổ dồn, ông hiệu trống bổi cất tiếng reo “hú-u” ba lần, lập tức cả đoàn người đồng thanh đáp lại “huy, huy…” vang động cả núi rừng.

Và khi đoàn rước chạm đến thềm đền Hạ, một hiện tượng kỳ thú diễn ra: những thanh niên vác cờ xí chạy vòng quanh đền, các cỗ kiệu bỗng nhiên chuyển động nhanh, rập rình, nhún nhảy liên tục mà người đời gọi là “kiệu bay”. Dân làng tin rằng, năm nào kiệu bay càng mạnh thì năm đó Thánh Mẫu, Quốc tổ càng linh ứng ban điềm lành cho xóm làng.

Làn điệu Xoan cổ và những trò diễn đượm vị điền dã

Khi tiếng trống tế ở đền Thượng lắng xuống, cũng là lúc không gian đền đượm trong làn điệu hát Xoan thờ – thứ dân ca di sản độc bản của đất Phú Thọ. Ông trùm phường Xoan Kim Đức đứng trước hương án hát bài khấn nguyện đầy thành kính. Tiếp đó, một kép trẻ đeo trống nhỏ trước ngực ra làm trò giáo trống, giáo pháo, rồi bốn cô đào duyên dáng thắt lưng lụa xanh đỏ ra hát thơ nhang, dâng hương bằng chất giọng cổ lối mộc mạc, điềm tĩnh. Ở đền Hạ, phường Do Nghĩa lại trình diễn lối hát ca trù (hát nhà tơ) mừng dâng thánh thần, réo rắt và trầm bổng.

Bước ra khoảng sân thoáng đãng dưới chân núi, người xem hội lại bị thu hút bởi trò đu tiên độc đáo của đồng bào Mường. Chiếc đu được làm theo hình guồng nước, có từ 4 đến 8 ghế ngồi. Các cô gái Mường trẻ măng, diện trang phục sặc sỡ ngồi trên ghế, luân phiên lấy chân đạp đất cho guồng quay tít, vừa đu vừa cất tiếng hát trong trẻo:

“Đu tiên mới dựng năm nay,
Cô nào hay hát kỳ này thì lên.
Tháng ba nô nức hội đền,
Là ngày giỗ Tổ mấy nghìn năm nay…”

Ở một khoảng sân khác, trò ném còn lại thu hút đông đảo trai gái. Quả còn bọc vải ngũ sắc được tung lên, hướng về chiếc vòng tre dán giấy hồng mỏng trên ngọn cây tre cao. Người xưa quan niệm tờ giấy hồng ấy là biểu tượng cho sự trinh tiết của người phụ nữ, và trò chơi là sự cầu mong âm dương hòa hợp. Ai ném xuyên thủng vòng còn làm rách tờ giấy hồng, người đó tin rằng năm ấy mình sẽ gặp duyên may hạnh phúc.

Đặc biệt, nếu về với hội Hùng từ những thập niên đầu thế kỷ, ta còn được chứng kiến đồng bào Mường mang trống đồng về tham dự qua trò diễn “Chàm thau” (đâm trống đồng). Chiếc trống được treo thẳng đứng trên một cái hố nông đào sẵn để tạo độ vang, người ta dùng chày đâm thẳng vào mặt trống. Tiếng “cái”, tiếng “con” đập nhịp nhàng theo thân hình đong đưa của người giã, nghe ầm vang như tiếng núi rừng vọng về từ thuở hồng hoang bầy đàn chất phác. Đi cùng với đó là tục “Chàm đuống” (giã gạo cối muống hình thuyền) của phụ nữ Mường nhằm cầu mong cho một mùa màng lúa ngô tươi tốt.

Dư vị lắng đọng chốn Nghĩa Lĩnh thiêng liêng

Hội Đền Hùng, từ trong sâu thẳm, chính là ngày hội của sự quần tụ. Nó là biểu tượng cao đẹp nhất của tinh thần cộng đồng, nhắc nhở mỗi người con đất Việt chung sức đồng lòng xây dựng giang sơn phồn vinh.

Bước chân ra về khi bóng chiều đã ngả sau đỉnh Nghĩa Lĩnh, du khách không quên sà vào các quầy hàng quanh chân núi để chọn mua chút đặc sản làm quà lữ thứ. Nào quả bưởi Đoan Hùng ngọt lịm, trái dừa Tam Đảo mát lành, hay những gói chè Phú Thọ đượm vị chát ngọt tự nhiên… Tất cả như mang theo một chút hơi thở, một chút sinh khí của đất Tổ về với nếp nhà bình dị nơi phố thị.