HỘI ĐỀN ĐỒNG BẰNG
| Đối tượng suy tôn: | Trần Hưng Đạo, Bát Hải Động Đình (Thủy thần). |
| Địa điểm: | Thôn Đào Động, xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. |
| Thời gian: | Ngày 20 đến ngày 26 tháng Tám. |
| Đặc điểm: | Đua thuyền, một tục lệ truyền thống. |
Nằm bên bờ sông Đào Động êm đềm, đền Đồng Bằng thuộc địa hạt thôn Đào Động (tên cổ là Đào thôn), xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình là điểm hẹn tâm linh linh thiêng từ bao đời nay. Hằng năm, cứ vào dịp cuối thu, nơi đây lại tưng bừng mở hội kéo dài từ ngày 20 đến hết ngày 26 tháng 8 âm lịch. Dù diễn ra trong nhiều ngày, hội vẫn luôn chật kín du khách thập phương đổ về hành hương, chiêm bái. Vùng đất này từ xưa đã lưu truyền những câu ca dao quen thuộc, khắc sâu vào tâm khảm người đi xa:
“Dù ai buôn xa, bán xa,
Hai mươi tháng tám giỗ cha thì về.
Dù ai buôn bán trăm nghề,
Hai mươi tháng tám nhớ về Đào Thôn.”
Nguồn Gốc Lịch Sử Và Hai Quan Niệm Thờ Tự
Theo hệ thống tư liệu sắc phong còn lưu giữ tại đền Đồng Bằng, vào khoảng thế kỷ XIV, danh tướng Trần Nhân Huệ của triều Trần đã chọn vùng đất này để chiêu dân khẩn hoang, khai cơ lập nghiệp và kiến thiết nên trang Đào Động. Nhớ công ơn to lớn ấy, nhân dân địa phương đã tôn kính suy tôn ông làm Thành hoàng làng.
Bên cạnh đó, huyền thoại dân gian còn lý giải nguồn gốc của hội đua thuyền độc đáo nơi đây gắn liền với một câu chuyện cảm động từ thế kỷ XIII. Sau khi giang sơn sạch bóng quân thù, hai người lính chiến năm xưa trở về quê hương và chia tay nhau tại một quán nước bên làng Nuỗi, phủ Nội, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Một người dừng chân ở lại chiêu dân lập ấp, người còn lại tiếp tục di chuyển đến vùng đất không xa – chính là Đào Động ngày nay – để khai hoang, làm ăn sinh sống và lập nên 8 trang thôn.
Để gìn giữ mối thâm tình kết nghĩa giữa hai làng chạ và ôn lại một thời gian khổ, họ đã tổ chức hội đua thuyền trên dòng sông Đồng Bằng và sông Nuỗi. Hoạt động này vừa giúp thắt chặt tình đoàn kết, vừa rèn luyện kỹ năng sông nước cho trai tráng trong vùng. Khi hai vị tiền bối qua đời, dân chúng mỗi làng đều tôn kính thờ phụng họ làm vị thần bảo hộ của quê hương.
Tuy vậy, trong đời sống tâm linh của cư dân bản địa lại tồn tại hai góc nhìn khác nhau về đối tượng thờ tự tại ngôi đền này. Hệ tâm thức thứ nhất tin rằng đây là nơi cầu nguyện Đức Bát Hải Động Đình – một vị thủy thần tối cao thống lĩnh vùng sông nước. Trong khi đó, xu hướng thứ hai lại một lòng hướng về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Chính vì sự giao thoa đặc biệt đó, đền Đồng Bằng còn được dân gian gọi bằng cái tên kính cẩn là đền Bát Hải Động Đình.
Không Khí Chuẩn Bị Và Nghi Thức Khai Lễ Hội Đền Đồng Bằng
Để chuẩn bị cho ngày hội lớn, ngay từ ngày 19 tháng 8 âm lịch, toàn bộ khuôn viên trong đền ngoài sân đã được dọn dẹp sạch sẽ, tinh tươm. Hệ thống cờ ngũ hành, cờ đuôi nheo rực rỡ sắc màu được cắm dọc từ nội điện ra tận cổng tam quan đền Đồng Bằng ở Thái Bình. Giữa sân đền, lá cờ đại phấp phới tung bay trên cột cờ cao vút, tạo nên một biểu tượng linh thiêng mà người dân từ đầu xóm đến cuối thôn đều có thể chiêm ngưỡng. Mở đầu cho chuỗi nghi lễ, các bậc cao niên và chức sắc trong làng sẽ trang trọng cử hành lễ mộc dục.
Sang ngày 20 tháng 8, đền chính thức mở cửa đại bái. Tiếng chiêng trống rền vang vang vọng khắp không gian báo hiệu ngày hội bắt đầu. Khách thập phương từ muôn nơi nô nức kéo về, thành kính dâng hương hoa lễ vật để cầu mong bình an, tài lộc.
Tuy nhiên, phải đến ngày 21 tháng 8 thì lễ hội mới thực sự bước vào giai đoạn cao trào. Theo lời kể truyền miệng từ các thế hệ trước, Đức Thánh Trần dâng hà ngày 20, nhưng phải đến ngày 21 thì người dân Đào Động mới nhận được tin buồn. Do đó, ngày 20 làng vẫn tổ chức cúng giỗ như các nơi khác, còn ngày 21 mới là thời điểm diễn ra đại lễ rước kiệu quy mô lớn.
Ngay từ buổi bình minh, không khí đã vô cùng tưng bừng và náo nhiệt. Những cỗ kiệu tháp tùng cùng tàn lọng, đồ bát bửu, chấp kích đã được bài trí uy nghiêm ngay giữa sân đền. Khi tiếng chuông đồng hồ vừa bước qua giờ Ngọ, đoàn rước kiệu tôn nghiêm bắt đầu khởi hành. Toàn thể nhân dân Đào thôn trang trọng rước kiệu Đức Vua di chuyển hướng về phía “đình bơi” để chính thức phát lệnh khai mạc hội đua thuyền truyền thống – linh hồn và là hoạt động chủ đạo của ngày hội.
Hội Đua Thuyền Truyền Thống Đất Đào Thôn
Quy Cách Chiến Thuyền Và Trang Phục Trai Bơi
Thuở xưa, Đào thôn được chia thành 9 giáp, theo lệ cứ 3 giáp sẽ hợp lực đóng chung một chiếc thuyền đua, gọi là một tích. Người đứng đầu và chịu trách nhiệm cao nhất trên mỗi thuyền được gọi là trưởng trải hoặc trưởng tích. Đây phải là những bậc tráng niên có uy tín, sức khỏe dẻo dai, am tường luật lệ và giàu kinh nghiệm sông nước, bản thân từng có nhiều năm tham gia các mùa đua trước.
Thuyền đua (gọi là trải) được đóng bằng thớ gỗ dổi dẻo dai, nhẹ và chắc chắn nên rất khó bị nứt vỡ khi va đập. Độ dài của các trải có thể chênh lệch nhau, dao động từ 8 đến 10 mét, nhưng đều tuân thủ nghiêm ngặt một phom cấu tạo thống nhất: phần thân giữa phình rộng, hai đầu thon nhỏ và vút cao lên (phần mũi cao 80 cm, phần lái cao 100 cm so với mặt nước). Phía đầu mũi thuyền được chạm khắc hình đầu rồng bằng gỗ tinh xảo gọi là “ống réo”, tạo nên dáng hình “đầu rồng, đuôi tôm” đặc trưng. Những chiếc trải này quý giá đến mức luôn được bảo quản cẩn thận và có riêng một cai mạn chịu trách nhiệm trông coi.
Sáng ngày 22 tháng 8, sau khi làm lễ hạ trải xuống dòng sông, các vị chức sắc cùng toàn bộ lực lượng trai bơi tiến vào đình làm lễ trình thánh. Đội hình trên mỗi chiếc trải bao gồm 1 người chấp hiệu, 1 người phất cờ, 2 người giữ lái, 2 người tát nước cùng đội ngũ từ 20 đến 22 tay chèo khỏe mạnh.
Trang phục của các giáp được quy định rất gọn gàng và mang tính đồng bộ cao. Sáu thành viên giữ nhiệm vụ chấp sự và lái thuyền mặc quần áo chẽn, chắp khăn đầu rìu màu đỏ, thắt lưng màu đỏ hoặc màu vàng. Đội ngũ tay chèo mặc trang phục đẹp mắt, tuyệt đối không đóng khố như một số hội đua thuyền ở các địa phương khác:
- Trai Đào Động: Đội khăn đầu rìu đỏ, mặc quần áo trắng và thắt lưng xanh.
- Trai Trung Toán: Đội khăn đỏ, thắt lưng đỏ, mặc áo xanh phối quần trắng.
- Trai Thượng Thắng: Đội khăn đỏ, thắt lưng vàng, mặc áo đỏ phối quần trắng.
Bên cạnh trang phục, hệ thống dầm bơi của mỗi tích cũng được sơn những gam màu khác biệt để khán giả dễ dàng nhận diện và cổ vũ.
Nghi Thức Xuất Phát Và Diễn Biến Đường Đua
Khi nghi lễ trình thánh khép lại, các tay chèo nhanh chóng di chuyển về vị trí thuyền của mình dưới bến sông. Ở phần mũi của mỗi trải lúc này đã bày sẵn một mâm cúng nhỏ có trầu rượu và bức tượng “ông Mó” (hình con phượng chế tác bằng gỗ sơn son thếp vàng).
Tiếng pháo nổ giòn giã vang lên phát lệnh xuất phát. Ngay lập tức, các trải thực hiện động tác hất mâm lễ cùng tượng “ông Mó” xuống dòng nước (vị cai mạn sẽ chèo thuyền theo sau để thu gom lại), đồng thời đồng loạt bổ dầm thúc thuyền lao đi. Người chấp hiệu đứng ở mũi dậm chân giữ nhịp, miệng hô lớn: “Giai bơi, giai khỏe!”. Toàn bộ trai bơi phía sau đồng thanh đáp vang: “Dô huậy!”, tạo nên sức mạnh cộng hưởng đưa con thuyền xé nước vun vút lao về phía trước.
Lộ trình cuộc đua bắt đầu từ đình bơi, các trải phải chèo hướng thẳng về phía thẻ thượng (cọc tiêu) cắm tại Đồng Đống, tiếp tục vòng qua thẻ hạ đặt tại Cống Đôi rồi mới quay ngược trở về đích tại đình bơi. Thẻ tiêu ở đây là những cây tre dài từ 8 đến 10 mét, trên ngọn treo lá cờ đỏ đuôi nheo được cắm thăng bằng giữa lòng sông. Theo luật, trải nào tiếp cận cọc tiêu phải cử người nhổ được thẻ theo đúng quy định mới được tính là hợp lệ. Tổng chiều dài của đường đua rơi vào khoảng 4 km, với phần thưởng truyền thống dành cho đội chiến thắng gồm pháo, xôi và thủ lợn.
Trong hai ngày 22 và 23 tháng 8, ba chiếc trải của Đào Động sẽ thi đấu nội bộ với nhau, nghi thức này gọi là “thăm thẻ”. Bước sang ngày 24, cuộc tranh tài chính thức giữa làng Đào Động và làng Nuỗi (làng kết nghĩa chạ) mới chính thức khai màn.
Mở đầu, ba chiếc trải của Đào Động sẽ cùng chèo dọc sông lên làng Nuỗi với ý nghĩa cử phái đoàn “mời chạ”, cuộc bơi này do ban chủ khảo làng Nuỗi chấm điểm. Tiếp đó, làng Nuỗi sẽ cử 3 chiếc trải xuất sắc nhất xuôi dòng xuống Đào thôn để cùng tham gia tranh tài trên đường bơi “thăm thẻ” của hôm trước.
Sáu chiếc trải của hai làng dàn hàng ngang trên mặt sông, cùng xuất phát lao đi khi tiếng pháo hiệu nổ vang. Phần thưởng cho trận chung kết liên làng này có giá trị lớn hơn hẳn, bao gồm từ 20 đến 30 vuông lụa điếu, một bánh pháo lớn cùng 10 quan tiền. Sau khi các vòng đua khép lại, dân làng Đào Động tổ chức lễ tiễn trang trọng để tiễn 3 trải của làng Nuỗi trở về, hai bên cùng lưu luyến hẹn gặp lại vào mùa hội năm sau.
Các Hoạt Động Phần Hội Và Nghi Thức Bế Mạc
Chiều ngày 25 tháng 8, dân làng tổ chức nghi lễ cất trải, đưa các chiến thuyền rời nước về nơi lưu giữ an toàn. Bên cạnh điểm nhấn là tục đua trải hào hùng, suốt những ngày diễn ra lễ hội, du khách còn được hòa mình vào rất nhiều trò chơi dân gian và các hoạt động biểu diễn nghệ thuật đặc sắc khác như múa rồng, múa lân, đấu vật truyền thống hay đấu cờ tướng. Khi màn đêm buông xuống, sân đình lại sáng đèn với những canh diễn chèo cổ mượt mà, sâu lắng.
Đến sáng ngày 26 tháng 8, ngày cuối cùng của lễ hội, ban tế tự trang trọng thực hiện lễ rước “hoàn cung”, cung thỉnh Đức Vua trở lại nội điện đền, chính thức khép lại một mùa lễ hội bình an, thành kính.
Dấu Ấn Chi Đạo Của Vương Triều Trần Trên Đất Quỳnh Phụ
Một số nhà nghiên cứu văn hóa nhận định rằng, sở dĩ hội đền Đồng Bằng xưa kia thu hút lượng khách hành hương đông đảo đến vậy là nhờ sức hút từ tín ngưỡng cầu cúng Tứ phủ vương mẫu.
Đồng thời, lật mở những trang sử cũ, vùng đất Quỳnh Phụ Bắc thế kỷ XIII chính là cứ địa quân sự quan trọng của quân đội Đại Việt thời Trần. Nhờ lợi thế địa hình vùng An Lễ có dòng sông lớn và đầm lầy rậm rạp bao quanh, nơi đây đã được chọn làm căn cứ lý tưởng để đóng quân và huấn luyện thủy binh tinh nhuệ. Hệ thống sông Đồng Bằng và sông Đào Động nối liền các dải ven bờ biển với vùng ven sông Luộc, sông Hóa chạy xuyên suốt huyện Quỳnh Phụ.
Chính từ mật khu chiến lược này, cánh quân thủy của ta đã xuất phát, tiến thẳng ra cửa Đại Bàng (phía nam Đồ Sơn) để tổ chức trận đánh tiêu diệt gọn sinh lực địch vào ngày 2 tháng 12 năm 1288. Chiến thắng tiền đề đó đã tạo bước đệm vững chắc để vài tháng sau, quân và dân nhà Trần lập nên chiến công rực rỡ trên sông Bạch Đằng lịch sử.
Một số nguồn tài liệu quý giá khác cũng ghi nhận rằng, Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo cùng danh tướng Phạm Ngũ Lão từng có dịp về vãng cảnh, nghỉ ngơi tại vùng Đồng Bằng thơ mộng này. Việc nhân dân chọn ngày 20 tháng 8 âm lịch hằng năm để mở hội đền có mối liên hệ mật thiết đến sự kiện lịch sử ấy. Mọi hoạt động tập trận, luyện chèo của thủy quân thời bấy giờ đều nằm dưới sự chỉ huy tài tình của vị tướng quốc lừng danh. Vì vậy, khi ông qua đời, cư dân địa phương đã duy trì hội đền và tục đua thuyền truyền thống như một lời tri ân, khắc cốt ghi xương công lao vĩ đại của người anh hùng dân tộc.
