Lễ Hội Đền Đô Bắc Ninh: Hào Khí Lý Triều Trên Đất Cổ Pháp

  1. Đối tượng suy tôn: Tám vị vua nhà Lý (Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông) có công lớn đưa nước Đại Việt bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ.

  2. Địa điểm: Làng Đình Bảng, thị xã Từ Sơn (nay là thành phố Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh.

  3. Thời gian: Từ ngày 13 đến ngày 18 tháng Ba âm lịch hàng năm (Chính hội thường là ngày 15 tháng Ba – ngày vua Lý Thái Tổ đăng quang).

  4. Đặc điểm nổi bật: Gồm cả Hội Đền và Hội Đình. Điểm nhấn là lễ rước kiệu quy mô cực kỳ hoành tráng với sự tham gia của hàng nghìn người, tái hiện lại nghi thức hoàng cung xưa.

Mỗi độ hoa gạo thắp lửa bên sông, người dân xứ Kinh Bắc lại nao nức hướng về mảnh đất Cổ Pháp xưa, nay là làng Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Nơi đây quần tụ những thớ đất linh thiêng của vương triều nhà Lý – triều đại mở mở nền chính thống huy hoàng, đưa đất nước Đại Việt bước vào kỷ nguyên văn minh rực rỡ. Bước chân hành hương về với lễ hội đền Lý Bát Đế (thường gọi là đền Đô) những ngày tháng Ba mang lại cảm giác điềm tĩnh, linh thiêng, như chạm vào sinh khí của một thời đại thanh bình thịnh trị.

Khu di tích đền Đô nguyên là Thái miếu nhà Lý, do đích thân vua Lý Thái Tổ khởi dựng vào năm 1019. Đến năm 1030, công trình được vua Lý Thái Tông trùng tu, mở rộng và đổi thành đền thờ Lý Thái Tổ. Trải qua các triều đại lịch sử, đặc biệt vào năm 1602, vua Lê Kính Tông đã cho xây dựng lại với quy mô bề thế để phụng thờ tám vị hoàng đế triều Lý theo thứ tự trị vì: Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông và Lý Huệ Tông. Ngoài ra, chốn linh từ này còn thờ thêm thân mẫu của đức vua Lý Công Uẩn cùng tám vị hoàng hậu của vương triều.

Kiến trúc cung đình hòa quyện hồn quê Kinh Bắc

Nhìn ngắm quần thể đền Đô trên khuôn viên rộng hơn 3 ha, người ta dễ dàng bị thuyết phục bởi sự kết hợp tài tình giữa nghệ thuật cung đình nghiêm cẩn và nét mộc mạc của kiến trúc dân gian truyền thống. Phía trước đền là hồ bán nguyệt xanh trong, giữa hồ lững lờ tòa nhà Thủy đình thanh thoát. Bước qua cổng Tam quan chạm khắc rồng chầu phượng múa tinh xảo, lối đi dẫn khách qua những bậc tam cấp có voi đá, rồng đá chầu hai bên, nét đục vô cùng sắc sảo.

Khu trung tâm là chính điện thâm nghiêm, nơi đặt bài vị của tám vị vua và các hoàng hậu. Trong hậu cung, những hiện vật điêu khắc gỗ như kiệu rước, ngựa thờ, tượng người hầu cùng đồ tế tự đều được sơn son thếp vàng lộng lẫy, lỳ mặt theo thời gian.

Lịch sử ngôi đền từng trải qua những nốt trầm bi tráng. Sau Cách mạng tháng Tám, ngày 13/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về đây dâng hương tưởng niệm các bậc tiền bối. Thế nhưng, đến năm 1946, thực dân Pháp đã tàn phá, san phẳng ngôi đền thành những đống gạch vụn đổ nát, gai cỏ phủ đầy. Phải đợi đến năm 1989, nhờ tấm lòng hướng về cội nguồn của nhân dân Đình Bảng và đồng bào cả nước, ngôi đền mới từng bước được phục dựng lại theo đúng nguyên trạng xưa, gìn giữ trọn vẹn câu nói nổi tiếng trên văn bia cổ do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan soạn năm 1605: “Đất nước thanh bình thịnh trị được làm nên bởi nhân dân thời đại ấy”.

Hội Đền: Độc đáo tục hiến sinh và cuộc đại diễu hành kiệu bay

Lễ hội đền Đô được mở vào dịp xuân từ ngày 13 đến ngày 18 tháng Ba âm lịch, áp dụng cho cả hai phần: Hội Đền và Hội Đình. Trong đó, hội Đền lấy ngày rằm tháng Ba làm chính hội – đánh dấu ngày đăng quang hoàng đế của vua Lý Công Uẩn. Người đứng ra cai quản và gánh vác mọi việc tế lễ trong những ngày này là ông Cai đám, do dân làng họp bàn chọn ra từ trước.

Tục tế trâu mộng thui độc bản tại Đình Bảng

Nói thì dễ chứ tận mắt chứng kiến nghi thức tế lễ ở đây mới thấy nét văn hóa nông nghiệp đan cài sâu sắc. Trong ba ngày hội chính, ngày nào làng cũng làm lễ tế “hiến sinh” bằng một con trâu mộng béo tốt được thui chín nguyên con, đặt lên mâm xà lớn bên cạnh những mâm xôi trắng dẻo. Sau khi tạ lễ thần thánh, phần thịt trâu và xôi lộc sẽ được chia đều cho dân làng và thiết đãi khách thập phương tại chỗ.

Người trong nghề chúng tôi tìm hiểu được rằng, tục tế trâu thui này bắt nguồn từ điển tích thiền sư Nguyễn Minh Không chữa khỏi căn bệnh “hóa hổ” cho vua Lý Thần Tông. Để tạ ơn cứu mạng, đức vua đã ban lệnh cho dân làng Đình Bảng được phép thui trâu cúng thầy khi ngài viên tịch. Đặc biệt, mọi chi phí cho ngày hội xưa nay đều được trích từ hoa lợi của 8 mẫu ruộng tế tự của làng, người dân không phải đóng góp quá nhiều.

Đám rước tám kiệu vua hoành tráng

Hoạt động cốt lõi và lộng lẫy nhất của hội Đền chính là đám rước kiệu quy mô khổng lồ, di chuyển từ đền Đô về chùa Cổ Pháp – chốn tổ tương truyền là nơi Lý Công Uẩn cất tiếng khóc chào đời. Tám cỗ kiệu tượng trưng cho tám vị vua được trang hoàng cờ hoa lộng lẫy, do những trai làng khỏe mạnh, khôi ngô, chưa lập gia đình khiêng phụ giá.

Đi kèm đoàn rước là bàn hương án, các bậc bô lão diện áo thụng xanh, quần trắng, đầu đội mão đi hia nghiêm cẩn, theo sau là dòng người đông đúc che rợp bóng tàn lọng, cờ xí ngũ hành. Đám rước di chuyển rập rình theo nhịp trống nhịp chiêng, có lúc kiệu nhún nhảy mạnh mẽ như bay lượn trên mặt đất, tạo nên một không gian thẩm mỹ đầy hào hùng.

Bên cạnh phần lễ, sân đền ngày hội rộn ràng với những trò chơi thượng võ và nghệ thuật dân gian như đấu vật, chọi gà, đốt pháo hoa, múa rối nước, diễn tuồng, hát chèo… Đáng chú ý nhất là hội cờ người Đình Bảng. Đây không thuần túy là trò giải trí may rủi mà là cuộc đọ trí căng thẳng qua nhiều vòng loại, người thắng cuộc được xóm làng trọng vọng như vừa lập một chiến công đầy kiêu hãnh.

Hội Đình: Sự dung hợp tín ngưỡng và nét đẹp “đón chạ” Kinh Bắc

Song hành với hội Đền là hội Đình, tổ chức tại ngôi đình làng Đình Bảng cổ kính – một công trình kiến trúc tuyệt mỹ dựng từ thế kỷ XVIII và được bảo tồn gần như nguyên vẹn cho đến ngày nay. Hệ thống thần linh thờ tại đình phản ánh sự dung hợp tín ngưỡng rất phong phú của cư dân bản địa: ban đầu đình thờ ba vị thiên thần (thần Núi, thần Nước, thần Trồng trọt), sau thờ thêm sáu vị lục tổ có công lập làng, và đến thời chiến tranh khi đền Đô bị phá hủy, bài vị của tám vị vua nhà Lý cũng được rước về thờ tự tại đây.

Hội đình diễn ra từ ngày 12 đến ngày 16 tháng Hai âm lịch. Các ngày lẻ như 12, 14 và 16, làng làm lễ tế thần bằng xôi và thịt lợn luộc chín. Riêng đêm ngày 13, một nghi thức tế thần bằng hai con lợn sống (một đực, một cái) được cử hành nghiêm mật. Tế xong, lợn mới được xẻ thịt chia về cho các hiệu để phát lộc cho từng gia đình.

Cái tình của người Kinh Bắc còn đọng lại rõ nét nhất qua tục đón chạ vào ngày hội đình. Làng Đình Bảng và làng Cẩm Giàng từ bao đời nay đã kết nghĩa bằng hữu khăng khít, trong đó Cẩm Giàng được tôn kính gọi là Chạ anh. Đến ngày hội, Đình Bảng dành riêng một ngày để đón phái đoàn Chạ anh sang chơi, tổ chức tiếp đón ân cần, chu đáo.

Những ngày này, sới vật đình làng lại sôi động bởi các đô vật tiếng tăm, sân đình chật kín người xem chọi gà đến từ khắp nơi như Hải Dương, Hà Nội, Sơn Tây, Hải Phòng, Thanh Hóa… Tiếng reo hò hòa cùng tiếng đàn phách chèo tuồng, giữ cho mạch sống quê hương luôn rộn rã.

Lời kết

Trẩy hội đền Đô hay hội đình Đình Bảng không đơn thuần là tham gia một sinh hoạt văn hóa thông thường, mà là cuộc hành hương đầy tự hào về với nguồn cội vương triều nhà Lý. Sức sống trường tồn của lễ hội nằm ở chỗ nó đánh thức lòng tự hào dân tộc, nhắc nhở hậu thế về một thời kỳ ông cha ta dựa vào sức mạnh lòng dân để xây dựng cơ đồ bền vững, lưu lại tiếng thơm cho ngàn năm sau.