LỄ HỘI CHÙA ÔNG QUẬN 5
| Dân tộc: | Người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh. |
| Đối tượng suy tôn: | Quan Công. |
| Địa điểm: | Chùa Ông, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. |
| Thời gian: | Rằm tháng giêng và ngày 24 tháng sáu. |
| Đặc điểm: | Ngoài Quan Công còn thờ nhiều vị thần khác, mang tính chất hỗn dung tôn giáo. |
Chùa Ông, hay còn được biết đến với tên gọi chính thức là Nghĩa An Hội Quán, là một ngôi chùa cổ kính tọa lạc tại số 676 đường Nguyễn Trãi, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Tên gọi “Nghĩa An” vốn là địa danh thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, nơi phần đông cộng đồng người Triều Châu sinh sống. Vị thần được thờ phụng chính tại đây là Quan Công, nhân vật lịch sử kiệt xuất mà cả người Hoa lẫn người Việt đều tôn kính gọi bằng cái tên thân thuộc là “chùa Ông Lớn”. Trong tâm thức dân gian, Ngài được ngợi ca là “Vạn cổ nhất nhân” (xưa nay chỉ có một), “Vạn cổ tinh huy” (vì sao sáng muôn đời) và là biểu tượng của “Nghĩa khí quần hồng” (khí tiết quy tụ mọi bậc anh hùng).
Lịch Sử Hình Thành Và Quá Trình Trùng Tu
Ngôi chùa được xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Trải qua dòng chảy của thời gian, công trình đã qua 4 lần đại trùng tu vào các năm 1886, 1901, 1969 và 1984, cùng nhiều lần sửa sang nhỏ khác để giữ được vẻ bề thế như hiện tại. Chùa Ông không chỉ là nơi gửi gắm niềm tin tâm linh mà còn là không gian giáo dục nhân cách, gìn giữ các giá trị đạo đức truyền thống quý báu như Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín của người Hoa khi rời xa quê hương bản quán.
Kiến Trúc Hình Chữ “Quốc” Và Nghệ Thuật Điêu Khắc Tinh Xảo
Mang phong cách đặc trưng của các đền miếu cổ người Hoa, Chùa Ông được thiết kế theo bố cục hình chữ “Quốc” (国). Ngay từ phía trước, khuôn viên sân chùa mở ra không gian thoáng đãng, dẫn lối vào hệ thống cửa chùa bằng gỗ mun được chế tác vô cùng công phu. Vách tường bao quanh được ghép từ những phiến đá trắng chạm khắc họa tiết trúc – mai thanh thoát và được phết kim nhũ lấp lánh.
Không Gian Tiền Sảnh Và Trung Điện
Bước qua cửa chính, phía bên phải là bệ cao đặt tượng thờ Ông Bổn (tức Bổn Đầu Công, tên thật là Trịnh Hòa – vị quan triều Vĩnh Lạc có công lớn trong việc truyền bá văn hóa Hoa hạ và tổ chức di dân) được bảo vệ nghiêm ngặt trong lồng kính. Phía bên trái là pho tượng ngựa Xích Thố cao 2,5 mét sơn màu đỏ rực – thần mã gắn liền với điển tích của Quan Công – trong tư thế ngẩng cao đầu kiêu hãnh, bên cạnh là tượng người giữ ngựa tay ghìm cương và một chú ngựa con đứng phủ phục dưới chân.
Sau khi đi qua sân Thiên tĩnh (giếng trời) – khoảng không gian kiến trúc hài hòa giúp đón gió và ánh sáng tự nhiên, du khách sẽ đến khu vực tiền sảnh rợp bóng cây cảnh. Hai bên hành lang dựng các hàng bia đá cổ khắc ghi niên đại trùng tu cùng danh sách những người có công đức xây dựng chùa. Ở vị trí trung tâm, bàn thượng án trang trọng đặt lồng kính chứa tượng Quan Công cao 0,50 mét ngồi trên hổ trướng, một tay vuốt râu dài, tay kia cầm Kinh Xuân Thu, chân trái đạp lên đầu con hổ đang nằm phục. Hầu cận hai bên là tượng Quan Bình và Châu Xương cao 0,40 mét bằng thạch cao sơn màu.
Phía bên trái bàn hương án là nơi đặt bài vị của Văn Xương Đế Quân (tức Khổng Tử), điều đặc biệt là tại đây có bày một Linga bằng gỗ trầm hương có khắc dòng chữ Hán “lấy cống khách bang” (quà tặng của một khách đi tàu người Hẹ), thể hiện sự giao thoa độc đáo với tín ngưỡng dân gian của văn hóa Chăm.
Sự Uy Nghiêm Nơi Gian Chính Điện Và Hậu Cung
Tại gian chính điện, đập vào mắt người xem là chiếc lư hương đổ sộ đặt phía trước, hai bên là hai hàng bài vị đối diện nhau của Quan Công, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Thần Tài và Nghĩa An hội quán. Sát vách tường bên trái treo một quả chuông gang lớn sơn đỏ với đường kính 80 cm, đối xứng phía bên phải là hai chiếc chuông đồng nhỏ hơn.
Đi sâu vào hậu cung, pho tượng Quan Công bằng thạch cao sơn màu cao đến 3 mét đứng uy nghi trong lồng kính trên bệ gỗ cao hơn một mét. Tượng được tạc theo các quy ước kinh điển: khuôn mặt đỏ sậm, râu năm chòm dài chấm ngực, đầu đội mão Kim hoa, mặc giáp trụ thêu rồng 4 móng và khoác chiếc áo bào màu xanh lá cây (món quà quý từ Lưu Bị, biểu trưng cho sự văn võ song toàn). Ngoài cùng tượng còn khoác thêm lớp áo vải xanh nước biển thêu kim tuyến lộng lẫy. Bệ gỗ nâng đỡ tượng được chạm trổ hoa văn tinh vi với các đề tài bát tiên, mai điểu, rồng chầu… Phía sau lưng treo bức hoành phi khắc đại chữ “ĐƠN TÂM QUÁN NHẬT”, ngợi ca tấm lòng son sắt như mặt trời của Ngài. Hai bên vẫn là tượng Châu Xương và Quan Bình đứng hầu trong lồng kính.
Bên cạnh đó, không gian hậu cung còn có hai bàn hương án thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và Thần Tài. Bao quanh các bệ thờ là hệ thống bao lam gỗ chạm khắc vô cùng tinh xảo các môtíp tứ linh (long, lân, quy, phụng) đan xen cùng cảnh trí sinh hoạt dân gian như chèo thuyền, bắt cá, gánh nước, mục đồng cưỡi trâu, tiều phu đốn củi. Phía trước mỗi bàn thờ đều bày bộ ngũ sự bằng đồng bạch cao khoảng một mét và cây đèn bảy ngọn (thất đăng) thắp sáng ngày đêm.
Kiến Trúc Mái Chùa Và Các Bức Hoành Phi
Mái chùa được thiết kế phân tầng thành 3 cấp theo nhịp cao ở giữa và thấp dần sang hai bên, lợp ngói màu xanh lục với những đường lượn cong mềm mại ở phần đầu mái. Trên nóc và các đường viền mái diềm trang trí dày đặc các phù điêu, tượng tròn bằng gốm biểu thị các con vật cát tường như chim phượng, dê, gà và các tiểu cảnh sinh hoạt quần chúng. Khắp các gian thờ treo trang trọng nhiều bức hoành phi đại tự nền đen chữ vàng ca tụng công đức của Quan Thánh, minh chứng cho sự sùng bái và tầm ảnh hưởng sâu rộng của Ngài trong cộng đồng.
Nét Đặc Trưng Trong Tín Ngưỡng Người Hoa tại Chùa Ông
Một điểm rất dễ nhận thấy tại Chùa Ông là sự “chung sống” hòa hợp, tự nhiên giữa nhiều vị thần thánh, nhân vật lịch sử thuộc các tôn giáo khác nhau mà không có ai chiếm vị trí độc tôn. Điều này phản ánh rõ nét tính đa dạng và bao dung trong đời sống tâm linh của người Hoa.
Thêm vào đó, các hình tượng linh vật hay thần thú ở đây bao giờ cũng được tạc theo cặp mẹ con: cạnh ngựa Xích Thố có ngựa con, dưới chân lân mẹ có lân con, bên hổ mẹ có hổ con và rồng mẹ có rồng con cùng bay lượn. Cách tạo hình này gửi gắm khát vọng thầm kín về sự sinh sôi nảy nở, gia tộc trường tồn của người dân dời cư.
Lễ Hội Chùa Ông – Những Nghi Thức Truyền Thống Đặc Sắc
Mặc dù Chùa Ông mở cửa quanh năm để đón khách thập phương và du khách quốc tế đến chiêm bái, tham quan, nhưng dòng người đổ về đông nhất là vào hai dịp đại lễ: Ngày rằm tháng giêng (Tết Nguyên Tiêu) và Ngày vía Ông (24 tháng 6 Âm lịch).
Công Tác Chuẩn Bị Và Phần Hội Sôi Động
Trước ngày chánh lễ, Ban quản trị nhà chùa sẽ tiến hành quét tước, sửa sang và xếp đặt lại các đồ tế tự. Nghi thức “tắm tượng” và thay xiêm y mới cho các pho tượng thần được thực hiện vô cùng trang trọng. Từ chiều ngày 14, không khí lễ hội được kích hoạt náo nhiệt bởi các đội múa lân, múa sư tử, múa rồng rộn ràng biểu diễn ngay trước khoảng sân rộng của chùa. Từ đêm 14 kéo dài cho đến hết đêm rằm tháng giêng, dòng người hành lễ nối đuôi nhau vào ra không ngớt.
Quy Cách Dâng Lễ Và Vòng Nhang Cầu An
Theo tập tục nghiêm ngặt, người đi lễ chỉ dâng cúng đồ chay (trái cây, hương hoa) lên bàn thờ Quan Công, riêng các vị thần linh khác và các thuộc tướng hầu cận thì có thể cúng đồ mặn (heo, gà, vịt). Tuy vậy, nhà chùa không hề có sự hạn chế hay kiêng cữ khắt khe nào, mọi vật phẩm dâng lên hoàn toàn phụ thuộc vào tấm lòng thành và điều kiện kinh tế của mỗi gia đình. Người giàu có thể cúng heo quay nguyên con hoặc dâng những vòng hương cầu an khổng lồ có đường kính lên tới một mét, cháy bền bỉ suốt cả tháng trời; người nghèo chỉ cần một đĩa quả tươi, một bó nhang thắp lên cũng đủ trọn vẹn nghĩa tình.
Sau khi kết thúc nghi thức tế lễ, gia chủ thường lưu lại một phần lộc cho những người phục vụ tại chùa hoặc phân phát cho người nghèo xung quanh để tích đức, phần còn lại mang về nhà dùng để “hưởng lộc”. Đối với các vòng nhang cầu an, nhà chùa sẽ đính kèm một phiếu nhỏ màu đỏ ghi tên tuổi, địa chỉ của gia chủ rồi treo lên trần cao để đốt cháy suốt ngày đêm.
Khi phần lễ tế trang nghiêm khép lại, phần văn nghệ dân gian với các vở tuồng cổ, ca kịch sẽ được tổ chức liên tục nhiều đêm ngay tại sân chùa, phục vụ nhu cầu giải trí và giao lưu nét văn hóa đặc thù của bà con.
Dấu Ấn Nhân Văn Qua Các Hoạt Động Thiện Nguyện Xã Hội
Bên cạnh vai trò là một trung tâm tín ngưỡng, Chùa Ông còn nổi tiếng với những đóng góp to lớn cho cộng đồng thông qua nguồn quỹ “Phước sương” do bá tánh ủng hộ và các hội viên Nghĩa An hội quán đóng góp. Hàng năm, nhà chùa đều đặn bảo trợ cho nhiều trường học, bệnh xá, nghĩa trang, lập các quỹ học bổng nâng bước học sinh nghèo hiếu học tại địa phương. Chùa cũng luôn đi đầu trong các phong trào xây dựng nhà tình nghĩa, trợ cấp cho chiến sĩ biên phòng, hải đảo và cứu trợ thiên tai.
Đặc biệt nhất phải kể đến hoạt động cấp áo quan miễn phí cho những gia đình nghèo khổ, neo đơn khi có hữu sự mà không phân biệt người Hoa, người Việt hay người Khơ-me. Cứ có giấy xin gửi đến là nhà chùa sẽ cấp phát miễn phí, có năm số lượng lên tới 200 chiếc. Việc làm nghĩa hiệp, đậm tính nhân văn này chính là sự nối dài và hiện thực hóa tư tưởng nhân nghĩa, trung tín sáng ngời của Đức Quan Thánh giữa cuộc sống đời thường.
