-
Đối tượng suy tôn: Thiên Hậu Thánh Mẫu.
-
Địa điểm: Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
-
Thời gian: Ngày 15 tháng giêng.
-
Đặc điểm: Lễ rước vía Bà và múa lân, sư tử, kỳ lân, rồng, hẩu.
Người làm nghề chúng tôi quanh năm bầu bạn với những công việc tỉ mẩn, nhưng cứ hễ dư âm ngày Tết Nguyên Đán vừa chớm vơi là lòng dạ lại rục rịch, hướng về mảnh đất Thủ Dầu Một, Bình Dương. Cái không khí bận rộn, nhộn nhịp chuẩn bị cho lễ hội chùa Bà nó có một sức hút lạ kỳ lắm.
Ngay từ những ngày 12, 13 tháng giêng, người ở các tỉnh xa đã lần lượt đổ về thành phố này rồi. Các hàng ăn, tiệm giải khát tất bật trang hoàng, dọn dẹp; nhà trọ, khách sạn cũng lo sửa sang để đón khách thập phương. Khắp các ngả đường, các cửa hiệu bán nhang đèn, các sạp trái cây, hoa tươi luôn đầy ắp hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hành hương. Hội mở đúng vào rằm tháng giêng, nhưng nói thật là ngay từ sáng ngày 14, trên đường phố người và xe cộ đã đi lại tấp nập như nêm. Khách từ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh bạn xa gần nườm nượp đổ về bằng mọi phương tiện. Đến trưa ngày 14, lực lượng cảnh sát đã phải đặt các trạm kiểm soát ở các ngả đường từ ngoại ô để hướng dẫn lối đi, tránh ùn tắc. Cái thành phố mang dáng dấp trung du ngày hôm ấy như “quá tải” trước ba bốn chục vạn con người cùng xe cộ dồn về. Mấy chục đoàn lân, sư tử, kỳ lân, rồng, hẫu của Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh – mỗi đoàn trung bình từ ba, bốn chục, có khi cả đến trăm người – cứ rộn rã trong tiếng trống, tiếng phèng la, làm cho không khí tưng bừng, náo nhiệt vô cùng.
Điển tích về Thiên Hậu Thánh Mẫu và ngôi chùa cổ tại Thủ Dầu Một
Nằm ngay trung tâm thành phố Thủ Dầu Một, ngôi chùa thờ Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu được các bang người Hoa xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XX và được trùng tu vào năm 1923. Người trong nghề hay người dân bản địa đều gọi quen là chùa, nhưng thực ra xét kỹ thì gọi là đền mới đúng. Bởi vì nơi đây không thờ tượng Phật, không có sư sãi, không có tụng kinh, gõ mõ, và trong các ngày lễ, ngày vía đều cúng mặn.
Theo truyền thuyết kể lại, Bà có tên là Lâm Mỵ Châu, quê ở huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, sinh vào thời nhà Tống ở Trung Quốc. Câu chuyện về Bà linh thiêng lắm, kể rằng một hôm đang ngồi trên khung cửi dệt vải, Lâm Mỵ Châu bỗng dừng tay thoi, rồi bảo với mẹ rằng cha và anh của nàng đang gặp nạn lớn ngoài biển khơi. Người mẹ bàng hoàng chưa kịp tin thì mấy ngày sau, hai người con trai mình trần, tay trắng, sống sót trở về, còn người cha thì bặt vô âm tín. Từ đó, Lâm Mỵ Châu dần nổi tiếng với tài tiên đoán thời tiết, gió bão trên biển khơi, giúp cho biết bao ngư dân thoát được những cơn hiểm nghèo. Do mệnh yểu, nàng từ giã cõi trần vào tuổi ngoài 20 rồi trở nên hiển linh. Người ta truyền tai nhau rằng Bà thường khoác bộ y phục màu nâu, bay lượn trên biển để cứu những thuyền bè trong lúc lâm nạn. Do công đức ấy, Bà được vua Khang Hy đời nhà Thanh phong chức Thiên Hậu Thánh Mẫu.
Những người Hoa di cư sang Việt Nam vào các thế kỷ trước đa số đi bằng thuyền. Trên hành trình lênh đênh đầy hiểm nguy ấy, họ thường khấn vái Bà, mong được phù hộ cho “đi đến nơi, về đến chốn”. Khi đã định cư vững vàng trên đất mới, người Hoa thuộc các bang Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hẹ làm ăn ngày một phát đạt, đời sống ổn định nên đã lập chùa thờ để tạ ơn Bà. Theo tập quán, hằng năm lễ cúng vía Bà vào ngày 23 tháng 3, nhưng lễ hội có quy mô lớn và đám rước linh đình nhất tại Thủ Dầu Một lại diễn ra vào chính ngày rằm tháng giêng. Đây là hội chùa của người Hoa, nhưng điều trân quý là cả người Việt cùng bà con từ khắp các tỉnh thành đổ về tham dự rất đông, có năm lên đến ba, bốn trăm ngàn người. Bà con người Hoa ngoài lễ vật dâng cúng còn mang về lễ hội nhiều đoàn múa lân, sư tử, rồng, hẫu… Như năm 1992 làm thí dụ, trong số 27 đoàn tham dự lễ thì địa phương chỉ có 7 đoàn, còn lại là của các nơi góp vui.
Nghi thức cúng vía Bà và tục đấu giá lồng đèn làm việc nghĩa
Lễ cúng vía Bà được tiến hành trang nghiêm vào lúc nửa đêm ngày 14 rạng mùng 15 tháng giêng. Vị chánh tế chủ trì buổi lễ do 4 bang người Hoa ở thành phố Thủ Dầu Một gồm Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hẹ cử ra theo chế độ luân phiên từng năm. Lúc này, ngôi chùa được trang hoàng cờ xí, lồng đèn rực rỡ từ Tam quan vào đến điện thờ. Đặc biệt, có mười hai chiếc lồng đèn to, trang trí rất đẹp, tượng trưng cho 12 tháng trong năm được treo thành một hàng dài trước sân chùa, làm cho cảnh hội thêm lộng lẫy.
Cái hay của những chiếc lồng đèn này là chúng được đem đấu giá để lấy tiền làm việc công ích như y tế, giáo dục, văn hóa và công tác từ thiện ở địa phương. Chẳng hạn như năm 1992, số tiền đấu giá lồng đèn lên đến gần một trăm triệu đồng và toàn bộ số tiền đó được dành cho việc xây dựng lại ngôi trường phổ thông cơ sở Lê Văn Tám tại thành phố. Người nào “được lộc Bà” mang chiếc lồng đèn về treo ở gia đình, cơ quan hay xí nghiệp thì đều xem đó như một niềm vinh dự lớn.
Sân chùa rộng chừng 600 m2 trong ngày hội bỗng trở nên chật chội trước biển người chen lấn nhau vào đốt nhang lễ Bà. Vì lượng người quá đông, ban tổ chức phải đặt 4 chiếc lư hương lớn bằng xi măng cẩn sứ ở giữa sân để bá tánh cắm nhang, nhằm giải tỏa bớt khói hương ở trong chánh điện. Khách đến dự lễ hội chùa Bà thường có tập quán đốt nhiều hương trường – loại hương to bằng ngón tay cái và dài cả mét. Những chiếc lư hương to lớn là thế mà không cách nào chứa hết số hương đốt liên tục của khách, thành ra những người phục vụ cứ khoảng 10 phút phải nhổ bớt số hương đang cháy mang nhúng vào nước cho tắt đi. Về vật dâng cúng, người dân thường chuẩn bị heo quay cả con, gà, vịt, xôi, bánh và hoa quả chu tất. Sau lễ cúng Bà, khách hành hương tự do phân tán ra các tụ điểm vui chơi, xem múa lân, múa sư tử hoặc chuyển qua dự hội ở chùa Ông (nơi thờ Quan Công), chùa Thuận Thiên (ngôi chùa cổ của người Việt), hay đến Linh Không Đàn để trẩy hội ngày rằm.
Lịch trình rước cộ Bà uy nghi vang rộn phố phường rằm tháng giêng
Nói thì dễ nhưng phải chứng kiến tận mắt cái không khí lúc sắp bế mạc hội mới thấy hết cái lửa của ngày hội này. Khi chiếc lồng đèn cuối cùng được gỡ xuống trao cho nhà hảo tâm thắng cuộc, một đoàn gồm 20 con lân, sư tử, rồng, kỳ lân và hẫu từ phía cửa Tam quan rầm rộ tiến vào sân chùa biểu diễn “chúc Bà” trong tiếng trống, tiếng phèng la vang dội cùng tiếng reo hò không dứt. Kỳ lân thì vóc dáng nhỏ hơn lân, đuôi dài hơn và có chòm lông ở cuối, múa linh hoạt hơn. Còn hẫu là hình tượng một loại chó sói hay tấn công cả người ở miền Nam Trung Hoa cổ. Tiếp theo đoàn lân là bộ tứ “Tây du ký” gồm các nhân vật được hóa trang thành đường tăng Tam Tạng, Sa Tăng, Tề Thiên và Trư Bát Giới, đi cùng ban nhạc Triều Châu tiến vào.
Đến nửa buổi chiều ngày 15, đám rước cộ Bà uy nghi bắt đầu cuộc diễu hành qua các tuyến phố theo một lộ trình định sẵn, không thay đổi:
- Xuất phát từ chùa Bà, đoàn rước kéo qua đường Nguyễn Du, Yersin, qua Ngã Sáu.
- Tiếp tục di chuyển theo đường Trần Hưng Đạo rồi tiến vào đường Bạch Đằng dọc theo bờ sông.
- Đoàn vòng qua đường Đoàn Trần Nghiệp, Hùng Vương rồi theo trục đường quốc lộ 13 để trở về chùa.
Đi đầu đám rước là bốn con hẫu của bang Phúc Kiến làm nhiệm vụ mở đường, phía sau có khoảng 60 thanh niên mặc đồng phục, mang cờ hiệu, kiếm và thanh long đao oai nghiêm. Tiếp theo là xe chở bộ tứ “Tây du ký” biểu diễn ngay trên sàn xe có dàn nhạc đệm. Các đoàn lân, sư tử, rồng được bố trí xen kẽ với các đội “gánh cờ” và các đội “gánh hoa” rất sinh động. Đội gánh cờ gồm những lá cờ rộng khoảng 3m x 1m có tua, mỗi lá một màu thêu chữ “Quốc thái dân an” hoặc “Thái bình thịnh vượng” do hai người vác hai đầu tiếp nối nhau. Đội gánh hoa gồm 20 thiếu nữ tóc bím, mặc đồng phục satin màu cài cúc bên, gánh hai đầu hai láng hoa tươi hoặc hoa vải đủ màu sắc bằng chiếc đòn gánh thanh nhã, vừa đi vừa nhún nhảy như múa. Đi liền sau đó là dàn nhạc gồm kèn, sáo, phèng la, trống, đàn tranh, đàn kìm…
Rồi đến cộ Bà hiện ra lộng lẫy với hai màu đỏ và vàng, thiết kế bốn mái hai tầng trang trọng, bên trong đặt bài vị của Bà do 8 chàng trai mặc đồng phục đỏ sẫm, quần có nẹp trắng khỏe khoắn khiêng. Đi liền phía trước cộ Bà có 2 chiếc bàn nhỏ đặt lư hương cắm 3 cây hương trường đang cháy, mỗi bàn có 4 người khiêng. Đi ngay phía sau cộ Bà là các thành viên trong ban Quý tế mặc lễ phục uy nghiêm, có đoàn lân đi theo sau hộ vệ.
Có một tập tục cực kỳ đặc biệt và ít thấy ở các đám rước khác, đó là nhiệm vụ “đổi nhang” cho bá tánh hai bên đường. Đi kèm hai bên cộ Bà, mỗi bên có 2 người mặc lễ phục làm việc này. Họ sẽ nhận những cây nhang đã đốt sẵn từ người dân bên đường đưa tới, đem cắm vào lư hương trên kiệu, rồi lại lấy một cây nhang khác đang cháy từ lư hương của Bà trao lại cho người đó. Người dân quan niệm đây là cách trực tiếp “nhận lộc Bà” để cầu may mắn.
Theo sau đám rước là dòng người đông đảo kéo dài hơn một ki-lô-mét. Hai bên đường đoàn rước đi qua, nhà nào cũng chuẩn bị sẵn một chiếc bàn nhỏ bày hương hoa, trái cây và pháo mừng. Nhiều nhà treo dây pháo dài tới 4, 5 mét thả từ tầng lầu cao xuống. Cộ Bà cứ vừa đi qua khỏi là chủ nhà châm lửa đốt pháo mừng hội giòn giã, thành ra chỉ cần nghe tiếng pháo nổ vang trời là người ta đoán biết được đám rước đã tiến đến đoạn đường nào. Khoảng 6 giờ chiều, đoàn rước uy nghi về đến chùa Bà. Khi cộ Bà bước vào sân chùa, tiếng trống, tiếng phèng la và tiếng pháo lại một lần nữa vang lên rộn rã, báo hiệu lễ hội kết thúc viên mãn. Từng đoàn người, đoàn xe tản ra, nối đuôi nhau tỏa về các ngả đường, lòng thầm hẹn gặp lại ở mùa lễ hội năm sau.
