Lễ Hội Chử Đồng Tử Hưng Yên: Thiên Tình Sử Bên Dòng Sông Hồng

  1. Đối tượng suy tôn: Đức Thánh Chử Đồng Tử (một trong “Tứ bất tử” của người Việt).

  2. Địa điểm và thời gian:

    • Đền Dạ Trạch: xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

      • Thời gian: Từ ngày 10 đến ngày 12 tháng Hai (âm lịch).

    • Đền Chử Đồng Tử: tại làng Đa Hòa, xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

      • Thời gian: Từ ngày 10 đến ngày 15 tháng Ba (âm lịch).

  3. Đặc điểm nổi bật: Lễ rước nước trên sông và Lễ rước Phát du.

Nếu có dịp xuôi dòng sông Hồng từ kinh kỳ Hà Nội mươi tầng cây số, men theo con đê bạt ngàn dâu ngô của vùng đất bãi, bạn sẽ chạm mặt với vùng đất Khoái Châu, Hưng Yên. Nơi đây sở hữu hai ngôi đền cổ kính thuộc xã Bình Minh và xã Dạ Trạch, chốn phụng thờ Đức Thánh Chử Đồng Tử cùng nhị vị phu nhân. Người trong nghề điền dã như chúng tôi vẫn ví dải đất này như một bảo tàng sống, nơi lưu giữ nguyên vẹn một trong những huyền thoại diễm lệ bậc nhất của nền văn minh lúa nước.

Đức Thánh Chử Đồng Tử từ lâu đã được nhân dân tôn kính vinh danh là một trong bốn vị Thánh “Tứ bất tử” của tâm thức Việt. Dù dấu tích phụng thờ Ngài có ở nhiều nơi dọc đồng bằng và trung du, nhưng có lẽ chẳng nơi đâu giữ được cái sinh khí đượm vị đời như mảnh đất Khoái Châu – quê hương cốt lõi của Ngài. Hai ngôi đền nằm cách nhau không xa theo đường chim bay, mỗi địa chỉ lại gắn liền với một chương hồi, một lát cắt trong hành trình hiển thánh của bậc tiền nhân.

Huyền thoại đầm Nhất Dạ và triết lý nhân bản sâu sắc

Tìm về thư tịch cổ như cuốn Lĩnh Nam chích quái được biên soạn từ thế kỷ XV, ta mới thấu hiểu trọn vẹn câu chuyện tình không phân biệt giai cấp giữa chàng trai nghèo Chử Đồng Tử và nàng công chúa Tiên Dung. Con gái vua Hùng Vương thứ 18 nhan sắc tuyệt trần, tuổi mười tám mươi mốt không chịu lấy chồng, chỉ mê mẩn chu du thắng cảnh khắp non sông.

Thuở ấy ở làng Chử Xá, Chử Đồng Tử sống cảnh nghèo xơ xác, mẹ mất sớm, hai cha con chỉ có chung một chiếc khố vải thay nhau mặc khi ra ngoài. Đến lúc cha lâm chung, thương tình phụ tử, chàng đã quấn khố chôn cha, còn mình đành chịu trần truồng, ngày ngày ngâm mình mò cá dưới bãi sông. Bước ngoặt định mệnh xảy ra khi du thuyền của Tiên Dung cắm sào bên bãi cát thưa lau. Chàng trai hoảng hốt bới cát vùi mình ẩn náu, ngờ đâu công chúa lại chọn đúng khóm lau ấy để quây màn tắm. Nước dội làm trôi cát, lộ ra một thân hình cường tráng, đưa hai con người vào một cuộc giao ngộ tự nhiên.

Cảm động trước hoàn cảnh của chàng và tin vào duyên trời định, Tiên Dung kết duyên cùng Chử Đồng Tử, chấp nhận cơn thịnh nộ của vua cha để ở lại bãi sông mở hiệu buôn bán. Trải qua hành trình tìm thầy học đạo, được một vị cao tăng truyền pháp, Chử Đồng Tử mang về một cây gậy thần và một chiếc nón. Trên đường viễn xứ, khi màn đêm buông xuống, hai vợ chồng cắm gậy che nón tạm trú giữa đồng hoang. Kỳ lạ thay, đến canh ba, một tòa thành quách lâu đài cùng văn võ bá quan bỗng chốc hiện lên sừng sững.

Triều đình cho là tạo phản liền sai binh lính đến dẹp. Nhưng chỉ trong một đêm, một trận cuồng phong nổi lên, đưa cả tòa thành cùng người và vật bay thẳng về trời, để lại khoảng đất sụt sâu thành đầm lầy mênh mông mà người đời gọi là đầm Nhất Dạ và bãi cát xưa là bãi Tự Nhiên.

Trong mạch chảy dân gian, thần tích do Nguyễn Bính soạn từ thế kỷ XVI còn chép thêm: trên đường chu du, họ còn gặp nàng tiên Tây Cung và Tiên Dung đã chủ động cưới nàng làm vợ thứ cho chồng. Chử Đồng Tử, bằng cây gậy thần, đã cứu sống hàng trăm người dân lành khỏi dịch bệnh vùng Khoái Châu, Kim Động, Tiên Lữ trước khi cả ba vị cùng hiển thánh bay về trời. Ngài không chỉ là biểu tượng của tình yêu vượt khoảng cách, mà còn là một anh hùng văn hóa, người có công chinh phục đầm lầy, mở mang nghề nông, ươm tơ dệt lụa và giao thương hàng hải.

Đền Đa Hòa: Nghệ thuật kiến trúc sông nước thời Nguyễn

Ngôi đền thờ tọa lạc tại làng Đa Hòa, xã Bình Minh, chính là nơi mở đầu cho thiên tình sử duyên dáng ấy. Được xây dựng trên mảnh đất bằng phẳng rộng hơn 18.000 m2, đền Đa Hòa mang đậm dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn với 18 ngôi nhà lớn nhỏ, có phần nóc mô phỏng hình con thuyền mũi cong – một biểu tượng đặc trưng của cư dân sông nước vùng sông Hồng.

Không gian chia làm hai khu riêng biệt:

  • Khu ngoài: Rộng hơn 7.000 m2, không có tường bao, nhà bia nằm thấp thoáng dưới bóng những tán đa cổ thụ trăm tuổi, nhìn thẳng ra dòng sông Hồng cuộn đỏ phù sa.
  • Khu trong: Qua Ngọ môn là tòa Đại tế, tòa Thiên hương, cung Đệ nhị, Đệ tam với những bộ kèo, cột, cửa võng, hương án được chạm khắc vô cùng tinh xảo. Tại hậu cung thâm nghiêm đặt ba pho tượng Chử Đồng Tử cùng nhị vị phu nhân được đúc bằng đồng nguyên khối, cao bằng nhau, mặt tượng sơn màu da, kẻ mắt sống động.

Trước năm 1945, cứ ba năm một lần, đền Đa Hòa lại mở hội tổng vào ngày 10 đến ngày 15 tháng Ba âm lịch. Tuy nhiên, ngày hội rầm rộ nhất, thu hút đông đảo khách thập phương nhất vẫn là Lễ hội rước nước diễn ra vào trung tuần tháng Giêng sau Tết Nguyên đán.

Người trong nghề chúng tôi mỗi lần xem lễ rước nước ở Đa Hòa đều không khỏi trầm trồ trước tính quy củ. Đi đầu đám rước là hai con rồng vàng uốn lượn theo nhịp trống phách dồn dập. Đội tế nữ diện xiêm y rực rỡ dẫn đầu đoàn kiệu Thánh có lọng che hai bên. Ché đựng nước thiêng được treo bằng bốn dải lụa đỏ trên kiệu do tám cô gái khiêng, đoàn người nối đuôi nhau kéo dài ra tận bến sông.

Ở phía đối ngạn, từ làng Ngự Dội trên bãi Tự Nhiên, một đoàn kiệu khác cũng cờ xí rợp trời vượt sông sang hội ngộ. Hàng chục chiếc thuyền hoa dàn trận trên mặt sông Hồng, lượn vòng quanh chiếc thuyền chở ché nước chính giữa dòng, tái hiện lại khung cảnh du ngoạn năm xưa của công chúa Tiên Dung. Một vị bô lão uy tín mặc lễ phục, tay cầm gáo sơn đỏ múc từng gáo nước trong giữa dòng đổ đầy ché thánh trong tiếng trống, tiếng chiêng và tiếng pháo nổ vang rền đất bãi. Bản chất của nghi lễ này chính là ước vọng cầu nước, cầu mùa của cư dân nông nghiệp lúa nước.

Sau lễ dâng hương, phần hội tiếp diễn rộn ràng với các trò chơi dân gian như vật võ, đánh gậy, đánh cờ người, múa sư tử… Đêm đến, sân đền lại rộn ràng tiếng đàn phách của những canh hát cô đầu và hát chèo cổ.

Đền Dạ Trạch: Chốn linh từ chằm Nhất Dạ u tịch

Cách Đa Hòa mấy cây số là đền Dạ Trạch, ngôi đền được xây dựng ngay trên nền chằm Nhất Dạ xưa, nơi ba vị thánh bay về trời. Ngôi đền đã được xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật từ năm 1989. Diện mạo đền hiện nay mang kiến trúc đợt trùng tu năm 1890, quay mặt về hướng Đông, sở hữu chiếc chuông đồng lớn đúc năm 1902 và hai bia đá dựng từ năm 1819.

Đền Dạ Trạch được dựng theo kiểu chữ Công (𠂤), cấu trúc ba tòa nhà đắp nổi long phượng tinh xảo. Gian ngoài thờ thần Trời, thần Biển. Gian giữa phối tự bàn thờ công đồng, Thổ Công, Phật giáo và một chi tiết cực kỳ độc đáo: bàn thờ Ông Bế (tượng trưng cho con cá ngậm ngọc). Đây là một tàn dư văn hóa cổ xưa, minh chứng cho tín ngưỡng thờ cá nguyên thủy của cư dân đầm lầy cổ đại.

Tại hậu cung, phía chính giữa thờ ba pho tượng Đức Thánh cùng hai vị phu nhân, hai bên thờ các vị thân sinh của Chử Đồng Tử và vương tử Triệu Việt Vương.

Hằng năm, ngoài ngày sinh của Thánh (12 tháng Tám âm lịch) và ngày Thánh hóa (17 tháng Mười một âm lịch), đền Dạ Trạch mở hội chính rầm rộ từ mùng 10 đến ngày 12 tháng Hai âm lịch.

Nói thì dễ chứ phải trực tiếp hòa vào dòng người ở Dạ Trạch mới thấy nét riêng của chốn này. Đi sau kiệu Thánh là ba cặp “đĩ đánh bồng” do nam đóng giả nữ, lưng đeo trống cơm, vừa đi vừa uốn éo, vỗ trống bập bùng điêu luyện. Lễ dâng hương tại đền có thêm điệu múa sinh tiền và múa cánh tiên uyển chuyển. Sang ngày hội thứ hai, làng tổ chức cuộc rước Phát du – đưa kiệu Thánh đi du ngoạn qua khu đầm Nhất Dạ về làng Đông Kim, quê hương của bà vợ thứ Tây Cung tiên nữ, rồi mới quay trở lại ngôi đền.

Lời kết cho một sinh hoạt văn hóa trường tồn

Lễ hội Chử Đồng Tử diễn ra ở cả hai ngôi đền tuy có đôi chút chênh lệch về thời gian, nhưng tựu trung lại đều hướng về lòng tri ân sâu sắc đối với một vị anh hùng văn hóa, người có công khai phá dải phù sa màu mỡ ven sông Hồng.

Cái áo khoác của một thiên tình sử lãng mạn kết hợp với những truyền thuyết biến ảo đã tạo nên sức hút khó cưỡng cho vùng bãi ngang này. Bóng đa cổ thụ, đầm nước tịch mịch và những chốn linh từ trang nghiêm cứ thế đan cài, neo giữ một điểm tựa tinh thần đầy sức sống cho cư dân nơi đây từ nghìn năm trước cho đến ngày hôm nay.