Nhiều dân tộc ở Tây Nguyên và dọc theo dãy Trường Sơn.
| Đối tượng suy tôn: | Giàng (Yang). Con trâu là vật hiến tế thần. |
| Địa điểm: | Tại sân nhà rông của buôn (Plơi). |
| Thời gian: | Từ 2 đến 3 ngày. |
| Đặc điểm: | Có 2 dạng tổ chức:
|
Thuật ngữ “lễ đâm trâu” mà nhiều người trong chúng ta vẫn thường sử dụng bấy lâu nay thực chất chưa phản ánh hoàn toàn chính xác nội dung cốt lõi của một lễ hội mang đậm sắc màu phong tục và tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Trong hệ thống tâm linh này, con trâu chỉ đóng vai trò là vật hiến tế dâng lên các vị thần linh. Xét trên thực tế, khái niệm cũ cũng không thể bao quát được toàn bộ tiến trình diễn ra của ngày hội, bởi hành động “đâm trâu” chỉ đơn thuần là một khâu nhỏ nằm trong chuỗi sự kiện phức tạp đó.
Hiện nay, có một số luồng ý kiến lên án tính chất mà họ cho là “dữ tợn” hay “dã man” của tục lệ này. Họ xem đây là tàn dư của một hệ quan niệm cổ xưa cần phải thay đổi, khi con trâu vốn là loài vật hiền lành, gắn bó thân thiết với đời sống con người, nay lại trở thành một “nạn nhân bi thảm và tội nghiệp”. Tuy nhiên, để có được một khái niệm sát với thực tế cuộc sống và đảm bảo tính chính xác về mặt khoa học, việc gọi tên sự kiện này là Lễ ăn trâu sẽ phù hợp hơn cả. Chính vì vậy, trong phạm vi bài viết này, khái niệm Lễ ăn trâu sẽ được sử dụng nhất quán thay cho các tên gọi khác.
Bức Tranh Tổng Thể Về Ngày Hội Đậm Tính Nghệ Thuật Dân Gian
Lễ ăn trâu là một sinh hoạt văn hóa dân gian vô cùng phổ biến ở nhiều dân tộc Tây Nguyên, đại diện cho một trong những ngày hội nổi bật và mang tính tổng hợp cao nhất của vùng đất này. Đại lễ huy động và kết hợp nhuần nhuyễn rất nhiều loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc, từ âm nhạc, sân khấu biểu diễn, các điệu múa hát, múa kiếm cho đến nghệ thuật tạo hình thủ công.
Sự kiện này thường được tổ chức vào các cột mốc trọng đại như dịp mừng chiến thắng, ăn mừng thắng lợi chung của cả plơi (buôn làng), dịp khánh thành ngôi nhà rông mới, lễ cầu bình an, hoặc khi cần thực hiện nghi thức xóa bỏ những điềm xấu, điềm gở cho toàn thể dân làng. Đôi khi, ngày lễ cũng có thể do một hộ gia đình cụ thể trong plơi đứng ra đăng cai tổ chức nhằm mục đích tạ ơn thần linh; dù vậy, chủ thể tham gia vào các hoạt động của lễ hội vẫn luôn là toàn thể cộng đồng.
Nếu người Việt ở miền xuôi nuôi trâu bò chủ yếu để lấy sức kéo cày và lấy thịt thương phẩm, thì đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên lại nuôi dưỡng loài vật này với mục đích tối thượng là để tế thần. Lẽ tất nhiên, trâu cũng được tôn vinh là một loại tài sản vô cùng quý giá bên cạnh những dàn chiêng, ché cổ có từ lâu đời. Tuy nhiên, không phải bất kỳ con trâu nào cũng có thể trở thành vật tế, đặc biệt là vật hiến tế chính. Dân làng sẽ tiến hành tuyển chọn con vật cực kỳ nghiêm ngặt dựa trên những tiêu chuẩn nghiêm cẩn đã định sẵn: con trâu được chọn phải có vóc dáng khỏe mạnh, đạt độ tuổi vừa vặn, sở hữu đôi sừng cân đối không tì vết và có một vài xoáy lông mang đặc điểm riêng biệt nằm trên lưng. Đối với những con trâu được ấn định làm vật hiến tế dâng thần, thông thường người ta đã phải chú ý nuôi dưỡng riêng từ vài năm trước đó.
Ngày lễ truyền thống này của các dân tộc Tây Nguyên thường được biểu hiện qua hai hình thái chính cụ thể dưới đây:
Hình Thái Thứ Nhất: Lễ Ăn Trâu Mừng Chiến Thắng, Mừng Thắng Lợi Của Cộng Đồng
Theo phong tục thông thường, ngày hội lớn của toàn plơi sẽ được diễn ra ngay tại khoảng sân rộng phía trước tòa nhà rông và thường kéo dài xuyên suốt ba ngày liên tiếp dưới sự chủ trì của già làng. Nội dung nền tảng của kỳ lễ là thực hiện việc hiến tế thần linh, ăn mừng chiến công của cộng đồng này đối với cộng đồng khác (đây là tích cổ thường diễn ra thuở xưa), hoặc đánh dấu việc hoàn thành một công trình trọng đại như xây xong nhà rông. Bên cạnh con trâu đực đạt chuẩn, dân làng còn phải sắm sửa đầy đủ các lễ vật đi kèm bao gồm heo, gà, các ché rượu cần thơm nồng và gạo nếp nương… Toàn bộ số lễ vật này sẽ do các hộ dân trong plơi cùng nhau tự nguyện đóng góp. Trước khi bước vào giờ hành lễ chính thức, già làng (khoa plơi) sẽ tiến hành kiểm đếm kỹ lưỡng lại số lượng vật phẩm, sau đó phân chia công việc cho từng người phụ trách mỗi công đoạn cụ thể.
Nghi Thức Dựng Cây Nêu Gingga Và Kết Nối Tâm Linh
Khi ngày hội đến gần, một nhóm trai tráng khỏe mạnh trong plơi được phân công vào rừng sâu để chặt các loại lá cây, tre và các loại gỗ đặc biệt, nhất là cây bông gạo mang về. Họ sử dụng những nguyên liệu này để dựng cột nêu và làm đàn tế thần (gingga) – tiêu điểm tâm linh thiêng liêng nhất của buổi lễ. Nhận mệnh lệnh từ già làng, họ tìm kiếm một khoảng đất bằng phẳng ngay trước cửa nhà rông rồi tiến hành chôn bốn cái cột phụ, bốn cây tua và một cây gừng cao bằng thân cây bông gạo to cỡ bắp chân người lớn. Một cây tre cao vút được dựng tựa chắc chắn vào cột chính để làm cây nêu, liên kết chặt chẽ với các cột phụ bằng những sợi dây lạt tre giữ nguyên màu trắng tự nhiên hoặc được nhuộm các sắc màu đỏ, tím bắt mắt. Đây được coi là chiếc cột thông gian nối liền giữa con người với vũ trụ bao la và thế giới của các vị thần linh.
Phía trên ngọn các cột và cây nêu có gắn thêm những cần tre uốn cong vút tỏa ra bốn hướng, trang trí tỉ mỉ bằng các vòng tròn, ống nứa, các chùm bông vót khéo léo từ tre, túm lông gà sặc sỡ cùng các hình vẽ mô phỏng chim muông, hoa lá… Trong suốt tiến trình chôn cột dựng nêu, già làng hoặc thầy cúng sẽ cầm chiếc túi thiêng (Yang kơdung), con dao cùng một số bảo vật thiêng liêng khác để đặt tên cho cây nêu, rồi thành tâm đọc lời khấn vái (Yang) hòa cùng tiếng hú dài để gọi các vị thần linh về chứng giám. Bốn ché rượu cần loại ngon được đem xếp và buộc chặt xung quanh chân cây nêu, đặt cạnh một con gà và một con heo đã được làm thịt sạch sẽ. Toàn thể dân làng từ người già, trẻ nhỏ, nam thanh nữ tú trong những bộ trang phục lễ hội đa sắc màu sẽ tập trung vây quanh thành một vòng tròn lớn để chứng kiến giờ khắc khai mạc.
Tiếng Cồng Chiêng Gọi Mời Và Hoạt Cảnh Chiến Sĩ Múa Khiên
Vào thời điểm con trâu tế thần được cột chặt vào gốc cây nêu cũng là lúc ánh hoàng hôn vàng rực trùm xuống không gian núi rừng. Ngay lúc này, dàn cồng chiêng bắt đầu tấu lên các bài bản quen thuộc đã ăn sâu vào tâm thức bao thế hệ người Tây Nguyên. Đó là bài Dual, bài Krum với giai điệu tha thiết nhằm vẫy gọi, thúc giục dân làng mau chóng rảo bước đến sân nhà rông để tham dự buổi khai mạc. Khi mọi người đã tập hợp đông đủ, già làng sẽ tiến lại gần khu vực cột gingga, cất giọng trang nghiêm để đọc lời cầu khấn các vị thần linh, cầu xin bề trên chứng giám cho tấm lòng thành kính của bà con và tiếp nhận các vật phẩm dâng tặng.
Lời khấn nguyện vừa dứt, âm thanh dồn dập từ các bộ cồng chiêng, trống lớn đồng loạt vang lên, hòa quyện cùng tiếng hú vang rộn rã của đám đông khiến bầu không khí ngày hội thêm phần náo nức. Đội chinh chiêng bắt điệu đánh bài Juar, di chuyển nhịp nhàng thành nhiều vòng xung quanh cây nêu. Ngay khi người thổi tù và rúc lên một hồi dài, người điều khiển rối cũng lập tức giật dây cho các con rối gỗ biểu diễn say sưa. Sau đó, đội chiêng chuyển sang bài Trum với nhịp điệu khoan thai, hơi chậm rãi. Lúc này, hai chàng thanh niên trong trang phục dũng sĩ, tay cầm thanh gươm sáng loáng cùng chiếc khiên chắc chắn bắt đầu tiến ra từ phía nhà rông. Họ thực hiện các động tác vờn nhau đầy kịch tính như đang dò xét tìm kiếm sơ hở của đối phương.
Bất thình lình, một nhân vật dũng sĩ thứ ba xuất hiện với dáng vẻ oai phong lẫm liệt hơn, tay cầm chiếc gậy dài tiến đến vờn trước mặt con trâu. Bị kích động, con vật bắt đầu lồng lộn lên giữa tiếng reo hò phấn khích của dân làng đang đứng quây quần. Hai dũng sĩ múa gươm và khiên tiếp tục tái hiện lại cuộc đọ sức cam go, căng thẳng. Cuối cùng, một bên đuối sức chấp nhận thua cuộc, cúi đầu bước lùi về vị trí cũ. Người chiến thắng kiêu hãnh giơ cao chiếc khiên và thanh gươm sáng ngang ngực, bước đi hiên ngang trong tiếng hò reo vang dội của đám đông.
Tiếp nối chương trình, đội múa tap mlia tiến vào sân diễn. Hai nhạc công thúc trống dồn dập, tạo điều kiện cho bốn thiếu nữ duyên dáng trong bộ váy áo sặc sỡ, đeo vòng bạc kiểng bạc sáng lấp lánh bước ra thực hiện điệu múa uyển chuyển, nhịp nhàng quanh cây nêu theo chiều ngược kim đồng hồ với gương mặt hớn hở. Ba người đàn ông khác đánh cồng với nhịp điệu nhanh mạnh hòa cùng tiếng trống, làm náo động cả không gian đại ngàn về đêm trong ánh lửa sàn bập bùng. Cứ thế, cuộc vui kéo dài xuyên đêm cho đến tận sáng hôm sau, trong khi một số cụ già do say rượu đã thiếp đi từ lúc nào.
Giờ Khắc Hiến Tế Chính Thức Và Nghi Thức Ngày Kế Tiếp
Sáng ngày hôm sau, khi những tia nắng bình minh vừa ló rạng, dân làng lại tụ họp đông đủ quanh cây nêu để chuẩn bị cho phần lễ chính. Hai chàng trai vạm vỡ bước ra từ đám đông, một người cầm chiếc mác sắc nhọn, người kia cầm chiếc lái sáng loáng. Họ từ từ tiếp cận con vật rồi vung tay chém một nhát chính xác vào khuỷu chân trâu. Con vật lồng lên dữ dội, chạy quanh gốc cây nêu. Giữa tiếng cổ vũ cuồng nhiệt của người xem, một thanh niên khỏe mạnh múa lưỡi giáo theo nhịp trống, lựa chọn thời cơ thuận lợi nhất để phóng một cú đâm mạnh mẽ, xuyên thẳng qua nách trâu thấu tận tim. Con vật vùng vẫy chạy thêm vài vòng rồi đổ gục xuống đất.
Ngay lập tức, hai thanh niên khác khiêng một chiếc nồi đồng có sẵn chút rượu đến ghé vào vết thương để hứng lấy dòng huyết. Huyết trâu sau đó được hòa đều với rượu để làm lễ dâng cúng thần linh trước khi chia cho mọi người cùng uống. Thầy cúng cũng dùng dao cắt một phần nhỏ ở tai, mũi, mi mắt và lông đuôi của con vật mang vào đàn tế để làm phép. Trong lúc này, nhạc cồng chiêng lại nổi lên rộn rã, nam nữ thanh niên tiếp tục nắm tay nhau múa hát, diễu hành ngược chiều kim đồng hồ quanh xác con vật, thỉnh thoảng lại cất lên những tiếng hú dài vang vọng vào tận rừng sâu.
Con trâu sau khi hoàn thành nhiệm vụ hiến tế sẽ được đem thui vàng, xẻ thịt để chế biến thành các món ăn dâng cúng và thiết đãi khách khứa, phần còn lại được chia đều về cho các bếp lửa trong plơi. Mâm cúng thần linh bao gồm thịt nướng, thịt thăn, gan, bì và tiết trâu được đặt trang trọng ngay tại vị trí ché rượu gốc. Lúc này, túi thiêng (Yang kơdung) được hạ từ trên cây nêu xuống đàn tế để người ta lấy máu trâu thực hiện nghi thức “rửa” sạch túi thiêng. Đến nửa buổi chiều, dàn chiêng đánh bài Vang, đội múa khiên bước ra bãi trống trong tiếng reo hò của dân làng rồi di chuyển lên sàn nhà rông để thực hiện tục “đòi công”. Họ vừa đánh chiêng vừa hú vang, cho đến khi một vị trưởng lão mang rượu, thịt và thuốc lá ra mời. Lúc này, cả đội mới dừng chiêng và ngồi quây quần bên các ché rượu cần, vừa ăn uống vừa trò chuyện râm ran.
Bước sang ngày thứ ba, các bậc cao niên tiến hành xẻ đầu trâu, băm óc trâu hòa cùng thịt để làm món cúng tế riêng biệt đặt tại cột tơgun (cột mốc tâm linh ở giữa nhà rông) nhằm khấn nguyện vị thần Yang rông. Tiếng cồng chiêng và trống lớn trống nhỏ lại tiếp tục nổi lên bài Vang, kéo dài cuộc vui ăn uống cho đến tận đêm khuya mới chính thức bế mạc. Sau khi lễ ăn trâu kết thúc, theo tục lệ ở một số dân tộc, người dân trong plơi sẽ thực hiện nghiêm ngặt việc kiêng cữ trong vòng ba ngày: họ không đi vào rừng sâu và cũng tuyệt đối không tiếp đón khách lạ vào buôn.
Hình Thái Thứ Hai: Lễ Ăn Trâu Của Phạm Vi Gia Đình
Khác biệt với lễ ăn trâu mừng chiến thắng mang tính chất đại chúng của toàn thể cộng đồng, hình thái thứ hai này được tổ chức với một mục đích có phần thu hẹp hơn, đó là để trả ơn riêng của gia đình đối với thần linh. Về mặt quy trình nghi thức tiến hành lễ tục – chẳng hạn như cách thức dựng đàn tế, thiết lập cột gingga, các động tác đâm trâu hiến tế, sự đồng hành của đội cồng chiêng xuyên suốt cuộc lễ cho đến phần hội vui chơi – nhìn chung cả hai hình thái đều không có sự khác biệt quá lớn. Sự khác nhau chỉ nằm ở một vài chi tiết và điều khoản cụ thể như sau:
- Nguồn gốc lễ vật: Con trâu đực dùng để tế thần cùng các vật phẩm cúng kiếng khác trong hình thái của cộng đồng là do toàn bộ các hộ dân trong plơi cùng nhau quyên góp, tích lũy; ngược lại, ở hình thái gia đình, toàn bộ các chi phí và vật phẩm này sẽ do chính hộ gia chủ tự mình chuẩn bị đầy đủ.
- Nghi thức mở đầu của gia quyến: Khi bắt đầu bước vào giờ hành lễ của gia đình, toàn thể các thành viên trong nhà thân chủ bắt buộc phải tập trung đông đủ trước khoảng sân với bộ trang phục lễ hội chỉnh tề. Người chủ hộ sẽ đứng ở vị trí tiên phong, tay bưng một bát gạo đầy, bốc từng nắm nhỏ vẩy đều lên lưng trâu, đồng thời miệng lầm rầm đọc lời khấn mời thần linh về chứng giám cho lòng tri ân của gia đình. Tiếp sau đó, lần lượt từng thành viên trong nhà sẽ tiến đến sờ vào đuôi trâu hoặc nắm lấy sợi dây thừng buộc con vật tế.
- Tục hiến tế vật phụ: Người chủ nhà sẽ tự tay dùng gậy đập chết một con heo (đây là vật tế phụ đi kèm với một con gà) rồi mang đặt ngay ngắn bên cạnh cột gingga, sau đó lấy máu heo vấy lên thân cột.
- Cách sắp đặt các ché rượu cần: Chiếc ché rượu cần chính của gia chủ sẽ được ưu tiên đặt ở ngay vị trí chính giữa ngôi nhà; trong khi đó, tất cả những ché rượu do bà con láng giềng, bạn bè hay các hộ gia đình khác trong plơi mang đến chúc mừng sẽ được xếp thành một hàng dài ở phía sân trước.
- Vai trò điều hành trực tiếp: Thay vì có sự đại diện của già làng đứng ra quản lý toàn bộ các khâu như trong lễ mừng thắng lợi của cộng đồng, ở đây người chủ hộ sẽ phải tự mình đảm nhiệm lấy mọi việc. Ví dụ tiêu biểu như việc đứng ra đáp lại phong tục “đòi trả công” của đội cồng chiêng: chính tay người chủ gia đình sẽ phải bốc từng miếng thịt ngon để đưa vào miệng của từng nhạc công khi đội chiêng diễu hành bước qua bậc cửa nhà mình.
Mặc dù được gọi tên là lễ ăn trâu của gia đình để phân định rạch ròi với lễ hội của toàn plơi, tuy nhiên trên thực tế, công sức đóng góp cũng như sự tham gia cổ vũ của bà con láng giềng xung quanh vẫn chiếm một vai trò cực kỳ to lớn. Họ hỗ trợ đắc lực từ khâu chuẩn bị nguyên liệu cho đến các hoạt động hành lễ, vui chơi múa hát và ăn uống trong ngày hội. Bản chất của điều này xuất phát từ việc cả hai hình thái lễ hội đều có chung một hệ quan niệm thống nhất: tổ chức là để tri ân thế giới thần linh, đồng thời đều hướng về một mục tiêu chung là cầu mong mang lại lợi ích thiết thực, cuộc sống no ấm và sự bình yên cho toàn thể cộng đồng. Trong không gian linh thiêng ấy, các yếu tố thiên nhiên đại ngàn, con người bản địa và đời sống thực tại luôn hòa quyện vào nhau một cách chặt chẽ, không thể tách rời.
