Làm sao để bớt Tham lam và sợ hãi

Nhân dịp đến chúc tết nhà một người bạn thân, tôi thấy bạn tôi trên tường treo 2 chữ “Tri túc” (知足 – Biết đủ). 2 chữ này lại đối nghịch với 2 chữ “tham lam” mà tôi muốn nói tới. Thực sự để thực hành được 2 chữ tri túc này thật là khó và bài viết này đơn giản là bài viết tôi tìm tòi để tự quán chiếu bản thân mình, cố gắng để vượt qua lòng tham và sự sợ hãi của bản thân mình. Vậy bắt đầu được ta cần hiểu 2 chữ tham lam là thế nào.

Trong Bát Nhã Tâm Kinh (般若波羅蜜多心經 – Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh) có câu: “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc” (色即是空,空即是色). Vậy Sắc là gì và Không là gì.

Sắc (色) ở đây là Sắc uẩn trong ngũ uẩn. “Sắc” có thể hiểu là cái vật chất mà ta nhận thấy qua ngũ quan: thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác, vị giác.

Không (空) không phải là trống rỗng, không phải là hư vô hay không có gì, mà “Không” ở đây là Không có tự tính cố định, sự biến đổi do Duyên mà sinh ra.

Tức thị (即是): chính là.

Hiểu một cách đơn giản câu này là Sắc (vật chất, thân xác, tiền tài, các mối quan hệ, danh vọng, quyền lực…) nó vốn không cố định mà luôn biến đổi theo quy luật vô thường mà đa số chúng ta không thể đoán trước được.

Tượng Phật bà Quan âm tự tại
Tượng Phật bà Quan âm tự tại

Cũng như thân xác này không thể trẻ mãi mà sẽ già đi, cũng như sắc đẹp cũng dần bị lão hóa hay người ta yêu thương cũng có thể không yêu thương ta như thuở ban đầu, ví dụ tương tự về tiền tài, danh vọng, quyền lực…

Nhưng bản chất con người lại luôn muốn mọi thứ phải bằng hoặc hơn cái gì đang có hoặc đã có và đó chính là sự tham lam mà ta đang bàn tới. Tại sao vậy?

Tiến trình từ “Bám chấp” biến thành “Chấp niệm”

  1. Ái (爱)(Giai đoạn tiếp xúc): Nhờ 5 giác quan này ta thấy được cái đẹp hay cái xấu, cái du dương hay cái ồn ào, cám giác dễ chịu hay bỏng rát, mùi thơm hay mùi thối, vị ngọt hay vị đắng. 5 giác quan của ta tiếp xúc với “Sắc” và sinh ra cảm giác thích thú, thỏa mãn.
  2. Thủ (取) (Giai đoạn chiếm hữu): Vì thích nên ta nảy sinh tâm lý muốn nắm giữ, sợ mất đi (cái đẹp, cái du dương, cái dễ chịu, mùi thơm, vị ngọt) . Ta bắt đầu đồng hóa những thứ đó là “của TA”.
  3. Chấp (执) (Giai đoạn định hình chấp niệm): Khi sự nắm giữ đó trở nên quá sâu sắc, nó cắm rễ vào tiềm thức. Lúc này, ta bị đóng khung tư duy: “Tôi không thể sống thiếu người đó”, “Tôi không thể chấp nhận thứ tôi mất đi“, “Tôi phải dành mọi thứ tốt nhất cho người tôi yêu nhất.

Ban đầu khi cái Sắc có nguy cơ rời khỏi ta, ta sẽ lo lắng, sợ hãi gây cho ta cảm giác bất an. Và khi cái “Sắc” thực sự biến đổi (người thân yêu ta rời đi, tiền bạc mất mát, nhan sắc phai nhạt), chấp niệm sẽ lập tức biến thành sự oán hận, tiếc nuối, dằn vặt và khổ đau.

Lấy ví dụ để thấy được rõ hơn sự tham lam của con người. Khi ta nghèo khó túng thiếu không kiếm đủ 10 triệu ta luôn muốn cuộc sống tốt hơn bằng cách kiếm được 20 triệu để cuộc sống tốt hơn, và khi cuộc sống tốt hơn với 20 triệu ta thấy thật tuyệt nhưng ta sẽ lại không thỏa mãn những gì trước đây ta mong muốn. Mà cái ta muốn hiện tại lại lớn hơn rất nhiều cái 20 triệu của ngày hôm qua.

Cũng như con cái của ta khi chúng được 6.5 điểm toán, ta thất vọng rồi cố rèn rũa thật tốt để nó lên được 9.75 điểm. lúc đầu ta cảm thấy vui sướng nhưng sau đây ta lại muốn nó phải làm được bài để ôn thi học sinh giỏi và vô tình gây áp lực rất lớn lên nó. Vậy để thấy cái tham lam của ta luôn không có điểm dừng, không thấy cái “tri túc” ở đâu cả. Từ cái vật chất luôn biển đổi luôn bất định thông qua các giác quan của ta khiến ta lại muốn nó bằng hoặc lớn hơn cái ta đã hoặc đang có. Quá trình sẽ xảy ra với mọi sự vật hiện tượng xung quanh ta.

Trong y học có thể hiểu đó là Sự thích nghi và “Ngưỡng chịu đựng” của các Thụ cảm thể (Receptors). Đó là khi chúng luôn bị tác động với cường độ không đổi thì chúng sẽ bị trơ lỳ. Và để sinh ra cảm giác vui sướng (do Dopamine nội sinh) bắt buộc phải dùng một kích thích mạnh hơn lên chúng. Hiểu đơn giản là khi bạn ăn một món thịt kho tàu rất ngon, ban đầu bạn nghĩ sẽ muốn ăn nhiều lần sau. Nhưng nếu ăn lặp lại nhiều lần cũng chính món ăn đó thì bạn sẽ lại chán nó và không muốn ăn nữa. Đó là do giác quan vị giác của bạn đã tăng ngưỡng chịu đựng lên rồi, và để thỏa mãn bạn phải ăn một món ngon hơn với mùi vị khác đi.

Cũng như bạn ngửi thấy mùi hương thơm từ loại hương liệu nào đó thì ban đầu thấy rất ấn tượng về nó nhưng bạn để nó hẳn ở trong nhà và tiếp xúc hàng ngày, thì bạn dần cảm thấy nó không còn thơm nữa (khứu giác của bạn đã dần bị thích nghi với mùi đó) và cho nó là vô dụng định bỏ nó. Nhưng một người lạ đến nhà bạn thì sẽ lại khen mùi hương liệu đó rất thơm và muốn có nó. Ta thấy đấy con người ta cũng thật khó hiểu. Và tại sao lại nói kẻ thù của ta lại chính là ta.

Phật giáo có khuyên ta nên bỏ cái sắc đi để thấy an lạc không? Hay như một vài nhà giả tu khuyên ta hãy vứt bỏ hết tiền tài, vật chất để cầu cái bình an.

Bí quyết nằm ở hai chữ: Tự tại. Nó đối lập với trạng thái “Bị tại” (bị vật chất quay như chong chóng). Người Tự tại: Họ sống giữa cuộc đời, vẫn đi kiếm tiền, vẫn nuôi con, vẫn ngửi hương thơm, ăn món ăn ngon (Ái). Nhưng vì họ nhìn thấu “Sắc tức thị Không”, Cái ta đang có nó vốn biến đổi một cách vô thường. Nó không phải là vĩnh hằng. Đều có Sinh – Trụ – Dị – Diệt. Nên họ không có nhu cầu chiếm hữu (Thủ) hay đóng khung nó thành của mình mãi mãi (Chấp).

Ví dụ: Một đứa trẻ có sinh ra và lớn lên rồi chúng không thể ngây thơ đáng yêu như thời tiểu học mãi được. Nhưng có trong mắt cha mẹ yêu thương con chúng mãi là đứa trẻ ngây thơ như ngày nào. Nhưng thật khác, chúng sẽ trưởng thành rồi già đi… Vậy cái mà ta muốn có mãi là khoảnh khắc không tồn tại mãi. Cái mà ta bám víu sẽ thành chấp niệm nếu không theo ý muốn của ta. Mà thực tế tất cả đều theo chu kỳ vận động của vũ trụ vốn có không theo ý muốn của con người. Nên thực tế nhà Phật muốn nói ta nhìn thấu cái ta đang thấy (cái sắc) sẽ luôn biến đổi theo nhân duyên tức là (cái không) vốn chẳng khác nhau. Cái mà nhà Phật muốn ta buông bỏ chính là cái chấp niệm, chấp niệm rằng nó sẽ tồn tại mãi bên ta. Chấp niệm này khiến con người ta sợ hãi nếu mất đi và mất đi rồi thì khiến ta đau khổ.

Câu kinh có chép: bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Có thể hiểu 2 từ “tri túc” chính là: Bản thân ta tại khoảnh khắc này, với những gì ta đang có, đã là một sự hoàn hảo của nhân duyên rồi. Bạn sẽ nhìn cuộc đời biến chuyển muôn màu muôn vẻ, tâm bạn không còn bị cuốn theo những cái bẫy của sự sinh – diệt, tốt – xấu, được – mất nữa. Bạn sống giữa cuộc đời nhưng tâm hồn hoàn toàn tịch tĩnh, tự tại và tự do.

Nguyễn Trung Xin