Cái nghề sơn mài khảm ở nước mình tính ra đã bắt rễ sâu dày từ lâu đời lắm rồi. Ngược dòng lịch sử về triều vua Lý Nhân Tông, người trong nghề chúng tôi ai cũng nhớ đến công đức của cụ Trương Quang Thành, người thôn Ngọ, Chương Mỹ, Phú Xuyên, Hà Tây. Thuở ấy, cụ đã biết chọn lọc những mảnh vỏ trai, vỏ ốc xà cừ đem cắt gọt, ghép rồi cẩn lên gỗ để tạo nên các vật phẩm mỹ nghệ độc sắc. Nhân dân tôn cụ là tổ nghề khảm, nay đền thờ cụ vẫn được khói hương phụng sự tại quê nhà.
Nói thì dễ nhưng khi đặt nhát đục đầu tiên phối hợp chất liệu vỏ trai, xà cừ với sơn mài mới thấy cái tài hoa của ông cha. Các bậc nghệ nhân xưa đã khéo léo kết hợp chúng trên những bức hoành phi, câu đối, lẵng quả. Họa tiết chim hoa hay nét chữ can trên nền sơn đen khi có ánh sáng rọi vào liền phản quang óng ánh ngũ sắc như dải cầu vồng, trông hấp dẫn vô cùng. Ngày nay, tại xã Bối Khê (Phú Xuyên, Hà Tây) cùng một số xưởng nghề ở Hà Nội, người ta vẫn làm ra rất nhiều hàng xuất khẩu. Từ những sản phẩm thực dụng cỡ lớn như bộ bình phong, tranh tứ bình đến tranh trang trí đề tài lịch sử, bàn cờ, khay, hộp, lọ… đều mang đậm cái hồn cốt của xứ sở.
Về kỹ thuật thể hiện, cốt vóc để làm đồ sơn mài khảm không có gì khác biệt so với cốt vóc sơn mài nói chung. Cái tinh túy và khác biệt hoàn toàn nằm ở quy trình khảm trai cực kỳ nghiêm ngặt dưới đây.
1. Hệ thống dụng cụ và nguyên vật liệu khảm trai cốt lõi
Muốn làm ra một món đồ khảm chuẩn xác, người thợ phải có đủ bộ đồ nghề chuyên dụng trong tay. Những món dụng cụ này có khi phải tự mài giũa, sửa sang lại cho thật vừa tay:
- Cưa mỹ nghệ: Loại cưa nhỏ chuyên dùng để cắt gọt họa tiết đã vẽ trên vỏ trai.
- Bàn giũa (Bàn tì tay): Điểm tựa vững chãi để người thợ vừa cưa vừa giũa mảnh vỏ.
- Mỏ kẹp: Dùng để kẹp giữ chặt những mảnh vỏ trai nhỏ khi cưa giũa cho khỏi đau tay.
- Dao và đe băm cưa: Bộ đôi chuyên dùng để băm cho lưỡi cưa nổi gai lên, giúp cưa sắc bén hơn.
- Giũa nhỏ: Có đủ loại kích cỡ và hình dáng để mài sửa mạch cưa, giúp đường lượn thanh thoát.
- Bàn hộp kính & bút tỉa: Hộp có lắp kính bên trên, thắp đèn bên dưới để tô đậm nét mực nho lên vỏ trai bằng bút lông cỡ nhỏ.
- Guốc gỗ lót tay: Dùng để kẹp mảnh vỏ trai, mài trên đá ráp nước nhằm tạo độ dày đồng đều từ 2 đến 3mm.
- Bộ lưỡi đục & dùi đục gỗ: Gồm nhiều cỡ, nhiều dáng (mũi lòng máng, mũi phẳng, bản to nhỏ) để đục nền gỗ và nạm trai vào.
- Bút đanh nhọn: Đầu sắt nhọn dùng để can kẽ, vạch dấu họa tiết lên mặt vóc sơn trước khi đục.
- Bay xương, mo sừng: Dùng chung cho khâu làm vóc và nhào sơn kẹt.
Xử lý chất liệu vỏ trai:
Người thợ dùng vỏ trai sông, trai bể, ốc bể hoặc xà cừ. Vỏ trai được lựa chọn và pha ra thành từng thẻ mỏng, phẳng đều như con bài lá. Người trong nghề phải nương theo thớ cong lượn tự nhiên của chiếc vỏ để lựa được mảng phẳng nhất. Sau đó, dùng guốc gỗ lót để mài mảnh trai trên đá ráp với nước. Giờ đây kỹ thuật tiến bộ hơn, người ta có thể cải tiến bằng cách chạy đá mài mô-tơ điện, tay cầm guốc ốp mảnh trai vào mặt đá đang quay, bên trên dẫn một vòi nước nhỏ chảy liên tục để mài mòn.
Còn chất gắn vỏ trai xuống nền đục? Đó là sơn sống nhào với bột ngà hoặc bột xương được tán và rây thật nhỏ mịn.
2. Quy trình 11 bước kỹ thuật sơn mài khảm trai truyền thống
Một bức tranh sơn mài khảm trai hoàn thiện phải đi qua đúng 11 bước thao tác nối tiếp nhau, tuyệt đối không được bớt xén khâu nào.
Bước 1: Vẽ họa tiết lên mảnh vỏ trai
Người thợ ngồi bên chiếc bàn kính đặt chếch 45 độ, phía dưới thắp ngọn đèn nhỏ (hoặc ngồi cạnh cửa sổ lấy ánh sáng trời). Đặt tờ giấy can đã vẽ sẵn mẫu chim muông, hoa lá, người vật lên mặt kính. Ánh sáng xuyên qua làm nét vẽ hiện rõ mồn một. Ta đặt mảnh vỏ trai lên, lựa chiều cao cho gói gọn họa tiết.
Cái hay của người thợ là biết tùy hình dáng họa tiết mà chọn mảnh trai có ánh biếc, ánh xà cừ cho hợp sắc. Dùng bút tỉa chấm mực nho đặc để tô theo bóng nét vẽ mẫu. Nếu họa tiết lớn, phải chọn ghép nhiều mảnh. Can xong mảng nào phải gói riêng mảng đó, ghi chữ đánh dấu để không bị xáo trộn. Mảnh trai to thì có thể can chung vài họa tiết nhỏ lên cũng được.
Bước 2: Cắt gọt vỏ trai lấy hình họa tiết
Dùng mỏ kẹp giữ chặt mảnh trai, tì tay vào cọc hãm trên bàn giũa. Người thợ dùng cưa mỹ nghệ khéo léo lượn theo đường mực nho để bong lấy họa tiết ra. Đường cưa phải rất chuẩn để không làm gãy các chi tiết nhỏ hay nét mảnh. Cưa xong, dùng giũa nhọn mài sửa lại các mạch cưa và đường lượn cong cho thật nuột. Cưa đến đâu, gói riêng đến đấy.
Bước 3: Can đánh dấu họa tiết lên nền vóc sơn
Xếp các họa tiết trai đã cưa gọt hoàn chỉnh lên toàn bộ bố cục của mặt vóc hoặc nắp hộp theo đúng phác thảo. Dùng hồ nếp chấm dính tạm các mảng trai lại để chúng định vị, không xê dịch. Sau đó, lấy mũi đinh sắt của bút đanh vạch sắc nét theo đường diềm mảnh trai, khắc sâu xuống nền sơn. Xong xuôi, khẽ bóc các miếng trai ra, gói lại theo thứ tự số đã đánh trên bì và trên nền vóc.
Bước 4: Đục nền vóc sơn
Dùng lưỡi đục nhỏ nương theo nét vạch, lấy dùi đục gỗ gõ nhẹ để khắc sâu nền vóc sơn xuống tới cốt gỗ. Chiều sâu của rãnh đục phải vừa vặn bằng độ dày mảnh trai (khoảng 2 đến 3mm). Tùy nét vẽ mà thay đổi đục mũi lòng máng hay mũi phẳng lớn nhỏ. Nền gỗ bên dưới phải bạt thật phẳng để khi nạm trai không bị bấp bênh. Đục mảng nào phải ướm thử mảng trai đó vào ngay, vừa vặn thì đánh số làm dấu kẻo lộn.
Bước 5: Gắn trai xuống nền đục
Dùng bay xương hoặc mo sừng nhỏ nhào đều sơn sống với bột ngà mịn. Bôi một lớp sơn kẹt này xuống nền gỗ đã đục rồi đặt gắn từng họa tiết trai vào đúng vị trí. Lấy ngón tay ấn thật mạnh lên mặt vỏ trai cho lớp sơn thừa phòi ra các mép. Dùng mo sừng miết sạch phần sơn thừa này đi rồi đem món đồ vào nơi mát, thoáng gió để sơn nhanh khô.
Bước 6: Sơn thí lần thứ nhất
Vài ngày sau, khi sơn kẹt đã khô đét và gắn chặt mảnh trai vào cốt gỗ, tôi lấy dao trổ sửa lại các chỗ sơn thừa liếm trên mặt trai. Tiếp theo, quét một nước sơn chín (sơn đen) phủ trùm lên toàn bộ nền vóc. Đem ủ trong buồng ẩm vài ba ngày cho sơn khô hoàn toàn.
Bước 7: Mài nền sơn thí lần một
Khi nước sơn thí đã khô, đem tranh ra mài nước để mài mòn lớp sơn đen bám trên bề mặt, làm lộ rõ lại các họa tiết vỏ trai óng ánh.
Bước 8: Sơn thí lần thứ hai
Để sản phẩm được kỹ và bền lâu, người thợ tiến hành quét thêm một nước sơn thí bằng sơn đen lần thứ hai. Đợi lớp sơn này ủ khô trong buồng ẩm, ta lại đem ra mài nước như lần trước. Nước sơn thí càng nhiều thì sau này nước sơn quang cuối cùng càng lên màu sâu và đẹp.
Bước 9: Sơn quang, mài và đánh bóng
Quét nước sơn cuối cùng là sơn quang – loại sơn đen thượng hạng, đen lánh và có độ bóng sâu rất quý. Ủ trong buồng ẩm cho khô hẳn. Tiếp tục dùng nước sạch mài bằng đá màu (đá xanh), than xoan hoặc than thông mềm cho thật phẳng. Cuối cùng, dùng tóc, bông nõn cùng bột than mịn để nùn đánh bóng cho đến khi mặt sơn đen huyền lộng lẫy. Lúc này, các họa tiết khảm trai tạm thời vẫn bị lớp sơn quang phủ lấp kín mặt.
Bước 10: Tách họa tiết lộ nền vỏ trai
Đây là khâu đòi hỏi người thợ phải có con mắt cực tinh và bàn tay rất vững. Nương theo lằn ranh ẩn hiện giữa mép cạnh trai và nền sơn, tôi dùng dao trổ khéo léo cạo tách phần sơn quang bám tràn trên mặt trai. Phải làm ở nơi đủ sáng, đưa dao thật ngọt và chuẩn xác, tuyệt đối không để mũi dao trượt tay cào xước ra ngoài nền sơn bóng.
Bước 11: Khắc tỉa chi tiết và xoa mực nho
Tách sơn xong, tôi dùng mũi dao trổ thật sắc vạch khắc các đường chi tiết nhỏ lên mặt vỏ trai (như lối vẽ nét bằng bút sắt). Cách tỉa nét này thường dùng khi làm gân của từng chiếc lá trong mảng cây, hay các chi tiết mảnh dẻ khác.
Công việc cuối cùng là bôi mực nho đặc phủ tràn lên mảng trai vừa tỉa. Chờ một chút rồi lấy khăn lau sạch phần mực loe ra ngoài. Mực nho sẽ lọt và bám chặt vào các khe rãnh lõm do mũi dao trổ tạo ra. Nhờ vậy, các chi tiết tỉ mỉ sẽ nổi rõ hình lên trên nền ánh sáng óng ả của vỏ trai.
3. Bí quyết phối sắc của bậc thợ già truyền đời
Trong ngành sơn mài khảm này, những người thợ lão thành có thể cắt gọt được những chi tiết vô cùng tinh vi, thậm chí nạm lồng mảnh trai này vào lòng mảnh trai kia một cách rất tài tình. Theo từng chi tiết của phác thảo, chúng tôi phải biết chọn các mảnh trai có nhiều sắc ánh biếc, ánh hồng để cẩn xen giữa những mảnh trai ít sắc, giúp họa tiết phong phú về màu và tả chất được chuẩn xác nhất.
“Ví như khi làm họa tiết quả lựu, từng hạt lựu nhỏ bên trong phải là từng mảnh trai có nhiều sắc phản quang khác nhau, được cắt gọt tinh vi như những hạt ngọc. Hay như trên cánh bướm, người thợ có thể cắt chia nhỏ ra từng mảng hoa văn để nạm ghép các mảnh trai mang sắc độ khác nhau, gọt tỉa từng nét gân cánh xen kẽ, khiến sắc màu của cánh bướm sinh động, hấp dẫn vô cùng.”
