Khánh và bảng : Cổ vật pháp khí báo hiệu của tăng già bảng cùng với khánh thuộc nhóm các món pháp khí thiết yếu của Phật giáo, được sử dụng suốt ngày đêm tại những tùng lâm, tu viện hay phật học viện. Từ xưa đến nay, hai hiện vật này thường xuyên đảm nhận vai trò làm hiệu lệnh để thông báo giờ giấc tu học, tụng kinh, thọ trai cũng như chấp tác cho đại chúng tăng già.
Nguồn gốc lịch sử và đặc điểm cấu tạo của khánh, bảng
Căn cứ vào nội dung ghi chép trong quyển thứ 18 của tác phẩm Tượng khí tiêu, ngài Vân Chương có nêu rõ: Hình dáng của bảng tương tự như một đám mây, do đó thiết bị này còn được gọi bằng danh xưng khác là vân bảng. Bên cạnh đó, theo lời thuật lại từ một vị tục sư lão hòa thượng, vua Tống Thái Tổ nhận thấy âm thanh phát ra từ trống dễ khiến cho người đang ngủ bị giật mình. Vì lý do này, thay vì sử dụng trống, hoàng đế Tống Thái Tổ đã cho chế tác ra thiết khánh (loại khánh được tạo nên từ nguyên liệu đồng hoặc thiết).
Mẫu khánh này cũng được gọi tên là vân bảng bởi kiểu dáng của nó tương tự hình chim dơi đang bay, đồng thời trên cả hai mặt lưng và bụng đều xuất hiện những đồ án mây qua lại. Ở một vài nơi, loại pháp khí này còn có tên gọi là chinh. Phù hợp với quan điểm của ngài Vân Chương trong cuốn sách Tượng khí tiêu nêu trên, hình dáng của bảng giống như đám mây và thường chế tác từ vật liệu đồng, thiếc. Trái lại, tại các tùng lâm hay tự viện ngày nay, bảng lại chủ yếu được làm bằng chất liệu gỗ với các đường nét chạm trổ theo dạng bán kính bát giác. Số đo chiều cao của bảng đạt khoảng bốn tấc tây (quy đổi một tấc tây tương đương 10 cm) và chiều rộng đạt chừng hai tấc tây.
Thiết bị bảng cũng được dùng thay thế cho trống trong các hoạt động kể trên, đồng thời dùng để báo hiệu khi phân phát đồ cúng dường hoặc lúc xử đoán các công việc nội bộ của chúng tăng. Trong giới luật, bảng và khánh thường được định danh bằng thuật ngữ kiền chuỳ thần. Cách thức vận dụng hai vật phẩm này không có nhiều điểm khác biệt, sự phân hóa chủ yếu nằm ở kiểu dáng bên ngoài cùng nguyên vật liệu chế tạo. Thuở xưa, do nguồn thiếc và đồng còn khan hiếm nên tại một số nơi, các vị tổ sư đã dùng đá cẩm thạch để đẽo gọt thành khánh. Đây là loại đá có thể phát ra tiếng vang tương tự như khánh đồng thông thường nhưng âm lượng nhỏ hơn. Tại những ngôi chùa tổ cổ kính, loại khánh đá này đôi khi vẫn được đem ra sử dụng. Ở các tòng lâm hiện đại, mặc dù vẫn trang bị khánh nhưng chúng ít khi được vận hành, thay vào đó đại chúng hầu như chỉ chuyên dùng bảng gỗ.
Những chiếc khánh đồng cổ mang dấu ấn lịch sử
Trong hệ thống pháp khí này, thông thường khánh sẽ được đúc bằng đồng, còn bảng lại chủ yếu được xẻ bằng gỗ. Có khả năng các loại khánh bảng xưa kia cũng chịu chung số phận bị thu hồi tương tự như chuông đồng, khiến cho những chiếc khánh cổ trở nên vô cùng hiếm gặp. Vì vậy, chiếc khánh đồng mang niên đại ghi nhận vào năm Vĩnh Trị thứ hai (1677) hiện đang lưu giữ ở chùa Thiên Mụ (Huế) được xem là hiện vật có tuổi đời cao nhất.
Diện mạo đặc trưng của chiếc khánh này mang dáng dấp của một con dơi đang sải cánh bay, phần viền xung quanh được trang trí bằng hệ thống đồ án dây leo tay mướp đúc nổi. Chi tiết đáng chú ý là vị trí vú khánh được tạo hình thành một vầng mặt trời tỏa ra các tia đao mác, phía trên đỉnh xuất hiện chòm sao thất tinh. Đặc điểm này như một minh chứng khẳng định đây là vật phẩm có mối liên hệ mật thiết với triều đình quốc gia. Điểm xuyết trên phần nền của khánh là hình ảnh của 28 chòm sao khác (tức hệ thống nhị thập bát tú), biểu thị một cách rõ nét về bầu trời văn học, tương tự như mô hình một “tao đàn” dưới kỷ nguyên của vua Lê Thánh Tông.
Một hiện vật khánh đồng khác thuộc sở hữu của chùa Đại Bi (tọa lạc tại Vân Lũng – An Khánh – Hoài Đức – Hà Tây) sở hữu kích thước gần tương đương với chiếc khánh ở chùa Thiên Mụ, được hoàn thiện dưới triều vua Cảnh Hưng thứ sáu (1745). Cấu trúc của chiếc khánh này có phần hai đầu uốn cong hướng lên trên rồi cuộn lại. Bên cạnh bài minh văn khắc trên thân, vùng đỉnh khánh có ghi rõ các chữ: “Phúc Lâm viên Đại Bi tự tứ linh bảo khánh”. Chi tiết đó minh chứng rằng đồ án trang trí của khánh lấy ý nghĩa từ bộ tứ linh bao gồm long, ly, quy, phượng làm nội dung trọng tâm.
Tại khu vực chính giữa phía trên, sát với phần cổ khánh là hình ảnh một thục long uốn lượn ẩn hiện trong mây. Nằm ngay dưới hình rồng (tại vị trí bụng khánh) là hình tượng một con long mã đang phi nước đại trên các làn sóng, phần lưng đỡ lấy núm vú khánh có đường viền bao quanh bằng đồ hình bát quái. Ở hai bên phía thượng tầng là cặp chim phượng vũ trong tư thế như đang nằm ấp trên các ổ mây cuộn tròn. Phía dưới bụng của cả hai con phượng là cặp rùa đang bơi lội. Chúng ta có thể nhận định rằng “bộ tứ linh” xuất hiện trên chiếc khánh này hiện được đánh giá là tiêu bản có niên đại sớm nhất cùng được thể hiện trọn vẹn trong một không gian mỹ thuật. Số đo kích thước của chiếc khánh cụ thể như sau: chiều ngang đạt 136 cm; chiều cao tại điểm lớn nhất là 88 cm; độ dày thân khánh là 3 cm.
Giai đoạn sau mốc thời gian này, các tiêu bản khánh đồng tiếp tục được phát hiện ở khá nhiều địa điểm khác, tiêu biểu như tại chùa Thầy (Hà Tây), chùa Đọi (Hà Nam) cùng hàng loạt ngôi tự viện khác. Xu hướng tạo hình thẩm mỹ của các thế hệ khánh sau này có phần đơn giản hóa, ngược lại, nhiều sản phẩm lại tập trung nhấn mạnh vào giá trị của bài minh văn khắc trên bề mặt (chẳng hạn như bài minh do Phan Huy Thực soạn trên khánh chùa Thầy đã phân tích sâu sắc ý nghĩa triết học đằng sau tiếng khánh, đồng thời phản ánh phần nào tư tưởng Thiền tông và Lão giáo trong thế giới quan của một bộ phận nhà Nho).
Khánh đá và các tác phẩm bảng gỗ đặc sắc
Mẫu khánh được chế tác từ chất liệu đá cũng xuất hiện tương đối phổ biến tại Việt Nam. Cho đến nay, chiếc khánh đá tại chùa Tam Sơn được tạo tác vào giai đoạn cuối thế kỷ XVII ở Tiên Sơn – Bắc Ninh vẫn được đánh giá là tác phẩm có độ mỹ thuật cao nhất. Đường viền bao quanh khánh khắc họa các dải hoa dây phối hợp cùng hình linh thú và họa tiết đao mác. Trong lòng khánh chạm khắc hình chim phượng ở hai góc, phần đuôi chim bao bọc lấy hình ảnh mặt trời và mặt trăng, mang đậm hàm ý linh thiêng.
Về mặt kích thước, khánh đá có thông số ngang bằng hoặc thậm chí bề thế hơn khánh đồng, tuy nhiên độ dày thân khánh có thời điểm lên tới trên 10 cm. Các mẫu khánh đá được sản xuất ở những thời kỳ muộn hơn thường mang xu hướng tối giản, lược bớt các chi tiết trang trí, ví dụ như khánh ở chùa Sủi hay chùa Kiến Sơ (Gia Lâm – Hà Nội).
Những chiếc bảng gỗ có độ thẩm mỹ cao và quy mô lớn nhất có lẽ thuộc về bộ sưu tập tại chùa Đậu (Thường Tín – Hà Tây). Kiểu dáng thông thường của bảng là hình chữ nhật được vạt “chém” mất hai góc phía trên. Chiếc bảng gỗ ở chùa Đậu sở hữu chiều cao xấp xỉ 70 cm, chiều rộng lên tới hơn 130 cm. Đây được xem là một kiệt tác nghệ thuật đỉnh cao khi toàn bộ bề mặt được phủ kín bằng các mảng chạm khắc mây cuộn dầy đặc. Ẩn hiện giữa những tầng mây đó là hình ảnh đôi rồng cùng hướng về khu vực trung tâm – nơi có một cụm vân xoắn dạng chữ S đang bốc lửa.
Đây rõ ràng là một món đồ thờ tự linh thiêng mà người xưa tin tưởng rằng, âm thanh phát ra khi gõ bảng chính là biểu tượng cho lời cầu nguyện sấm chớp, kích hoạt mây trời kéo đến vần vũ nhằm ban tặng nguồn nước phồn thực cho muôn loài. Hiện vật quý giá này được xem là tiêu bản gần như độc bản và mang niên đại xác định vào thời điểm cuối thế kỷ XVII.
