Đền Và nằm tại thôn Vân Gia, phường Trung Hưng, thành phố Sơn Tây, Hà Nội (trước thuộc tỉnh Hà Tây). Nơi đây nổi danh là một trong những ngôi đền miếu cổ kính cùng vẻ đẹp bề thế hàng đầu trong vùng. Từ xưa đến nay, không gian này luôn duy trì các sinh hoạt văn hóa thu hút đông đảo người dân bản địa lẫn khách thập phương tham gia nhờ nhiều trò chơi dân gian đặc sắc vốn rất hiếm thấy ở xứ Đoài. Công trình hiện lên đồ sộ với lớp ngói bạc màu theo năm tháng, sở hữu khoảng sân rộng rãi và được che chở bởi những tán rừng lim cổ thụ uy nghi, trầm mặc trên ngọn đồi thấp sát ngay tuyến quốc lộ lớn.
Kiến trúc nghệ thuật độc đáo đậm dấu ấn thời Lê – Nguyễn
Nét cổ kính của ngôi đền thể hiện rõ qua cách tổ chức không gian nội và ngoại thất, kết hợp các đường nét kiến trúc mang đậm phong cách đền miếu thời Lê. Trải qua một số lần trùng tu dưới triều Nguyễn, dấu ấn nổi bật nhất còn lưu giữ lại chính là nghệ thuật chạm khắc cùng họa tiết trang trí tinh xảo nhưng vô cùng mềm mại, bay bổng. Tới nay, công trình vẫn giữ được độ vững chãi với bộ mái nguy nga, không gian bên trong thoáng đãng, nổi bật hệ thống bàn thờ cùng đồ tế khí uy nghiêm, lộng lẫy, xứng tầm với sự tôn kính dành cho vị Thánh được cả nước sùng bái — Thánh Tản Viên, một trong “Tứ bất tử” của dân tộc và là vị Phúc Thần hàng đầu trong tâm thức người Việt.
Theo truyền miệng dân gian, Thánh Tản Viên đại diện cho linh khí sông núi cùng nguồn sức mạnh siêu nhiên giúp nhân dân vượt qua giặc giã lẫn thủy tai. Tương truyền vào một dịp du xuân thuở xưa, khi ngài dừng chân tại một vùng đất tụ cư và quan sát thấy ngọn đồi hình kim quy tỏa hào quang lành (nay là đồi Và) mang địa thế đặc biệt, mây ngũ sắc từ đỉnh Tản Viên liền tụ lại che lọng tía. Ngài bèn cho lập hành cung tại đây, gọi là “đông cung”. Vài thế kỷ sau Công nguyên, người dân bắt đầu dựng đền bái vọng và duy trì hương khói đời đời. Tấm bia đá lập năm 1883 hiện còn lưu giữ tại chái đền ghi lại rằng thuở ấy nơi đây tuy chỉ là một ngôi miếu nhỏ nhưng vô cùng linh thiêng, cầu gì được nấy.
Trải qua nhiều biến động thăng trầm của lịch sử, đến thời kỳ thịnh trị dưới triều Lê, làng Và trù phú đã cùng cộng đồng trong vùng chung tay góp công của để xây dựng một ngôi miếu lớn ngay trên vị thế cũ. Tổng thể kiến trúc gồm năm gian với mặt tiền rộng rãi, chiều sâu lớn, kết hợp ba hàng cột lim to lớn ôm trọn một vòng tay. Chân cột được đặt trên các phiến đá tảng đục đẽo hoa văn tỉ mỉ, nâng đỡ ba bộ vì kèo chồng giường cùng hệ thống bẩy và quá giang chạm trổ sinh động các đề tài hoa lá. Nhờ vậy, khung sườn đồ sộ trở nên thanh thoát và hài hòa hơn. Gian chính giữa đặt hệ ban thờ ba vị Thánh Tản cùng hệ thống long ngai, bài vị sơn son thếp vàng lộng lẫy dưới tán lọng tía, tạo nên bầu không khí vô cùng linh thiêng.
Bên cạnh một số di vật thời Nguyễn còn sót lại, phần lớn đồ tế tự tại đây do khách thập phương dâng cúng qua nhiều thế hệ. Đáng chú ý nhất là những cỗ kiệu gỗ chạm khắc công phu với lớp sơn thếp vô cùng tinh xảo.
Lễ hội đền Và và nghi thức rước nước độc đáo qua sông Hồng
Lễ hội đền Và diễn ra vô cùng sôi nổi, sầm uất và vẫn bảo lưu trọn vẹn những lề lối cổ truyền, xứng đáng là một di sản phi vật thể giá trị. Sự kiện mở đầu bằng cuộc rước bài vị của Thánh vượt sông Hồng để thực hiện nghi lễ tắm ngai tại đền Dội, hiện thuộc xã Ngũ Bình, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Tục lệ này bắt nguồn từ truyền thuyết kể rằng Sơn Tinh từng du ngoạn vùng ven sông Hồng vào ngày 14 tháng Giêng. Gặp một thiếu nữ đang gánh đôi quang sọt, ngài nhờ cô gánh giúp đôi sọt nước từ dòng sông để rửa chân. Làm theo lời ngài, cô gái bước xuống sông múc nước thì đôi sọt tre bỗng hóa thành hai bầu nước đầy. Hôm sau, khi trở lại chốn cũ, cô lặng lẽ hóa thân và mặt đất đùn lên thành gò mộ. Ngài liền báo mộng để dân làng lập đền thờ, từ đó gọi là đền Dội.
Cứ vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, vào khoảng từ ngày 14 đến 17 tháng Giêng, đền Và lại tổ chức đại lễ. Điểm nhấn là nghi thức lấy nước giữa dòng sông Hồng vào sáng sớm ngày Rằm để đựng vào chiếc chum nhỏ. Lễ rước chính diễn ra vô cùng đông vui với sự tham gia của nhân dân tám làng gồm: Vân Gia, Cầu Trì, Mai Trai, Nghĩa Phủ, Dạm Trai (thuộc xã Trung Hưng); Phú Thịnh (phường Phú Thịnh); Phù Sa (xã Viên Sơn) và thôn Di Bình thuộc xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc.
Vào chiều ngày 14 tháng Giêng, mỗi thôn chuẩn bị một cỗ kiệu túc trực sẵn trên sân trước cửa đền. Sáng sớm tinh mơ ngày Rằm, nghi thức “phụng nghinh” bắt đầu, rước long ngai ba vị đức Thánh Tản ngự lên kiệu chính. Theo sau đoàn rước trùng điệp là các kiệu văn tế, kiệu long mũ đại diện tam Thánh cùng kiệu hương hoa, oản quả do các thôn dâng hiến. Đám rước diễn ra trong không khí trang nghiêm nhưng náo nhiệt, dòng người kéo dài diễu hành qua cầu Cộng để tiến vào thành phố Sơn Tây. Khi tới cổng thành cổ, đoàn kiệu quay một vòng rồi tiếp tục di chuyển qua các làng Phù Sa, Phú Nhi hướng về bờ sông Hồng. Các cỗ kiệu lần lượt xuống thuyền vượt sông, sau đó tập kết trước bàn thờ tam vị Thánh Tản rồi tiến vào đền Dội.
Đến xế chiều, đoàn kiệu lại làm lễ rước trở về đền Và. Khi hoàn tất các nghi thức tế lễ trang trọng, phần hội tưng bừng chính thức bắt đầu. Người dân hào hứng hòa mình vào các trò chơi dân gian truyền thống như đấu cờ người, đấu vật, chọi gà, thưởng thức những làn điệu dân ca và các vũ hình mang đậm dấu ấn văn hóa xứ Đoài.

Bài viết liên quan
Bát nhã tâm kinh và giải nghĩa tiếng việt
Lộc bình trên ban thờ: Ý nghĩa, cách đặt
Bình hoa trên bàn thờ: Cách đặt và ý nghĩa
Nậm rượu (Hồ tửu) trên ban thờ: Cách dùng và ý nghĩa
Bộ Tam Đài trên ban thờ: Cấu tạo, cách dùng và ý nghĩa
Mâm Thống (Mâm Xe): Đặc điểm, cách dùng và ý nghĩa
Mâm Xà trên ban thờ: Vị trí, công dụng và ý nghĩa của cỗ mặn
Mâm Triện trên ban thờ: Vị trí, công dụng và ý nghĩa
Mâm Bồng trên bàn thờ: Cách đặt và ý nghĩa của lễ vật dâng cúng
Chân nến trên bàn thờ: Cách đặt và ý nghĩa của ánh nến