Kết cấu bộ khung kiến trúc gỗ cổ truyền Việt Nam

Kết cấu bộ khung kiến trúc gỗ cổ truyền Việt Nam người làm nghề dựng nhà chúng tôi bao đời nay đều thấm nhuần một điều: cái hồn của nếp nhà cổ Việt nằm trọn ở bộ khung gỗ. Bản chất kiến trúc nguyên thủy của cha ông ta là kiến trúc gỗ, nương vào cây gỗ rừng làm cột làm kèo. Còn xu hướng dùng gạch xây tường chịu lực bành trướng, mang tính phổ biến thì mãi đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX mới bắt đầu rầm rộ. Cái hạn chế của kỹ thuật đục mộng gỗ ngày trước là không cho phép các công trình vươn quá cao, nhưng bù lại, nó tạo nên một hệ chịu lực cực kỳ linh hoạt và vững chãi.

Buổi khởi nguyên, nếp nhà dân dã của người Việt chỉ có kết cấu tương đối đơn giản như kiểu vì kèo trụ trốn hay vì kèo trụ chính (nọc ngựa). Thế nhưng, khi vùng đồng bằng Bắc Bộ trở thành nơi tụ hội, giao lưu các dòng văn hoá từ vô thức lẫn hữu thức, cấu trúc bộ khung đã tiến một bước dài. Ở những ngôi chùa chiền – tâm điểm tâm linh của làng xã – người xưa đã sáng tạo ra rất nhiều kiểu vì mái khác nhau. Có thể kể đến hệ thống vì kiểu giá chiêng, hệ thống vì kiểu chồng rường, vì kèo trụ trốn, hệ thống vì dựa trên kết cấu 3 hàng chân, và hệ thống vì ván mê. Đương nhiên còn có một số bộ vì khác nữa, song thường cũng chỉ là biến thể từ những hệ thống cơ bản kể trên mà ra.


1. Vì Giá Chiêng – Nền Móng Sớm Nhất Của Kiến Trúc Cổ

Cái thuở Bắc thuộc rồi Đinh, Tiền Lê, Lý và đầu Trần, kiến trúc tín ngưỡng ở thôn dã có lẽ chủ yếu chỉ được làm đơn giản bằng bương, tre, nứa, lá, khá gần gũi với ngôi chùa Mường hiện nay. Bộ vì cổ nhất còn sót lại mà cánh thợ chúng tôi được chiêm ngưỡng là ở chùa Thái Lạc (Hải Hưng), được xác nhận niên đại vào cuối thế kỷ XIV. Còn các thế kỷ trước đó, kết cấu ra sao thì tất cả đều chỉ nằm trong ước đoán.

[Image of traditional Vietnamese Gia Chieng wooden frame structure]

Cái hay của bộ vì giá chiêng là nó dựa trên kết cấu 4 hàng chân cột:

  • Phần đỉnh vì: Một cây Thuượng Lương (xà nóc) tỳ lực trên một đấu bình thuyền. Chiếc đấu này lại tỳ tiếp trên một rường ngắn mập.
  • Hệ trụ trốn: Hai đầu rường tỳ lực lên hai cột trốn qua hai đấu vuông thót đáy. Chân của hai cột trốn này cùng đứng vững trên câu đầu thông qua hai đấu vuông thót đáy khác. Ở phần không gian giới hạn giữa hai cột trốn, các cụ bao giờ cũng lồng vào một tấm ván hình lá đề có chạm khắc trang trí rất tinh xảo. Phía ngoài hai cột trốn là hai phần hình tam giác dưới dạng ván bưng dày, có đủ tư cách chịu lực để đỡ các thanh hoành mái.
  • Hệ câu đầu và cột cái: Toàn bộ hệ thống trên được tỳ trên một câu đầu to, khoẻ và ngắn. Câu đầu này được bào xoi vỏ măng ở hai bên, riêng phần lưng và bụng thì phẳng lì. Nó tỳ lực lên hai đầu cột cái qua hai đấu vuông thót đáy lớn. Thời này, hiện tượng xẻ đầu cột để ăn mộng trực tiếp với câu đầu chưa hề xuất hiện. Thân cột cái thường được làm bằng gỗ mít, đường kính khá lớn nhưng thân lại ngắn. Về hình thức, cột gỗ mít thời xưa cũng chưa chú ý lắm đến hiện tượng thắt ngậm “trên to, dưới nhỏ”.

Mối liên kết giữa cột cái, cột quân và hệ bẩy mái

Phần liên kết giữa cột cái và cột quân bao giờ cũng là một cốn tam giác được làm theo kiểu chồng rường. Thông thường, chiếc đuôi của đầu dư đóng vai trò là chiếc rường thứ nhất. Còn chiếc rường thứ hai sẽ ăn mộng vào cột cái, chạy ngang ra để tỳ lực trên đầu một cột trốn nhỏ. Phần không gian trống giữa cột cái và cột trốn được lát ván bưng để làm nơi thể hiện một mảng chạm nổi nghệ thuật. Từ thân ngoài của cột trốn, một chiếc rường cụt khác chạy lao ra để đỡ hoành mái. Bộ cốn này cũng như bộ mái đều được đục đẽo với các bộ phận to khoẻ, nổi khối, nhìn thì thấy ít nhiều mang nét thô phác của rìu đục, song thực chất lại chắc khoẻ và tạo cảm giác đầm ấm.

Xà nách cũng ăn chân mộng vào cột cái rồi chạy ra tỳ lực trên đầu cột quân qua một đấu vuông thót đáy lớn. Cột quân thời này khá thấp (chỉ khoảng 2 mét), khiến bờ mái giọt gianh hạ xuống rất thấp. Trong kiến trúc cổ, mái hiên hầu như hoàn toàn tỳ lực trên bẩy, và vì độ mở hiên khá lớn nên thân bẩy rất mập và dài. Như ở chùa Bối Khê, chiếc bẩy này dài đến hơn 1 mét, ăn mộng qua đầu cột quân để tạo thế cân bằng bởi một “nghé” hình tam giác đội bụng xà nách. Chiếc bẩy này đội một ván nong dày, hợp nhau tạo nên một diện diện tích trang trí lớn. Trên mặt bẩy và ván nong, người xưa thường chạm nổi hình Rồng dưới dạng thuỷ quái Makara (một thuỷ quái chủ).