| Đối tượng suy tôn: | Thánh Ông (tức chàng trai họ Đoàn) và Tiên Bà (tức nữ tướng họ Bùi). |
| Địa điểm: | Làng Liễu Đôi, xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. |
| Thời gian: | Từ ngày 5 đến ngày 10 tháng giêng. |
| Đặc điểm: | Do mở vào dịp Tết, nên hội vật võ trở thành một phần nội dung vui Tết. Có nhiều phụ nữ tham gia đua tài. |
Người trong nghề sới vật chúng tôi, cứ mỗi độ xuân về, nghe tiếng trống giục tùng tùng là lồng ngực lại nện liên hồi. Cái không khí ấy, cái tinh thần ấy, có lẽ chẳng nơi nào thấm đẫm và rạo rực bằng dải đất chiêm trũng Liễu Đôi (thuộc xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam). Đời thuở nhà ai, dân gian đã đúc thành bài vè chạy dọc tuổi thơ của bao thế hệ:
“Hội vật Liễu Đôi
Mùng năm cho đến mùng mười
Khắp nơi kéo đến, người người đua chen
Thức ngon, vật lạ như nêm
Trai thanh gái lịch về đền cầu may
Vật tài võ giỏi cao tay
Quần hồng, áo tía như mây kéo về…”
Đấy, cái không khí hội hè đầu xuân của vùng đất Hà Nam ngày xưa nó đặc biệt thế đấy. Người ta kéo về đền đông như nêm, không chỉ có các đô vật lão luyện hay những người mê coi đấu võ, mà còn thu hút sự đua tài của biết bao trai thanh gái lịch, quần hồng áo tía từ các địa phương bạn đổ về chung vui.
Nói bộc trực thế này, ở những nơi khác, vật võ thường chỉ là một tiết mục, một trò thi đấu nhỏ nằm trong phần hội của các lễ hội truyền thống. Nhưng riêng với Hội vật Liễu Đôi chúng tôi, đây lại là nội dung của hội vui xuân lớn nhất trong năm, chứa đựng trọn vẹn và phong phú cả hai yếu tố lễ và hội. Nơi đây suy tôn hai vị tiền nhân là Thánh Ông (tức chàng trai họ Đoàn) và Tiên Bà (tức nữ tướng họ Bùi).
Để chuẩn bị cho ngày hội, mọi việc phải được sắp đặt trang nghiêm. Hội thường mở đầu bằng những nghi thức nghiêm ngặt, tuân thủ chặt chẽ theo một trình tự định sẵn: mở đầu là lễ Động thổ đường cày vào đúng ngày Tết Nguyên Đán, kế đến là lễ Rước Thánh vào dóng vào ngày mùng 5 tháng Giêng, rồi lần lượt tới lễ Phát hỏa, lễ Trao gươm, và lễ Múa cờ tụ nghĩa. Khi các nghi thức quan trọng ấy xong xuôi, cuộc thi tài mới chính thức bắt đầu. Sới vật Liễu Đôi không diễn ra tự do, phóng khoáng vô chừng mà phải theo quy ước từ ngàn xưa, tiêu biểu là tục “Năm keo trai rốt” và tục “Đô xá làm nền”.
Cội Nguồn Trăm Năm Và Sức Sống Bền Bỉ Của Sới Vật Liễu Đôi
Làng Liễu Đôi chúng tôi nằm trên một địa bàn chiến lược quan trọng của vùng văn hóa đặc sắc nơi đồng chiêm trũng Hà Nam. Những chứng tích lịch sử về một thời cha ông chiến đấu để phát triển cuộc sống và bảo vệ Tổ quốc, từ thành quách, đền thờ, mồ mả cho đến các di vật, truyền thuyết… đến nay vẫn còn lưu giữ được khá đầy đủ.
Nói về nguồn gốc của Hội vật Liễu Đôi thì có nhiều thuyết lắm. Các cụ già trong làng vẫn hay kể lại câu chuyện xa xưa về “Pho tượng nổi” có hình dáng một số đô vật mà đám trẻ chăn trâu nhặt được. Thấy hay hay, lũ trẻ xúm vào vật nhau với pho tượng. Khổ nỗi tượng chỉ có một, nên chúng xoay ra thi vật với nhau cho ông tượng xem. Lạ kỳ thay, mỗi lần như thế, sức khỏe của chúng lại tăng lên gấp bội. Người lớn nghe chuyện nửa tin nửa ngờ cũng vào thử vật xem sao, quả nhiên thấy ứng nghiệm. Dân làng thấy vậy bèn lập miếu thờ ông tượng và hằng năm mở hội vật võ.
Theo tiến trình lịch sử, những lớp phù sa văn hóa kế tiếp được bồi chúc lên thêm, gắn liền với câu chuyện tình oanh liệt của chàng trai họ Đoàn và nữ tướng họ Bùi. Hai người bén duyên cầm sắt, nhưng rồi chàng trai họ Đoàn đã hy sinh anh dũng trong một trận chiến chống giặc phương Bắc xâm lược. Nữ tướng họ Bùi sau đó cũng trút hơi thở cuối cùng ngay trên mình ngựa trong một chuyến về thăm mộ chồng.
Cái hay của Hội vật Liễu Đôi là sức sống bền bỉ trải qua nhiều giai đoạn lịch sử. Có lúc thịnh, lúc suy do thời cuộc biến đổi, nhưng chưa bao giờ mạch nguồn ấy bị đứt quãng. Hằng năm, người dân Liễu Đôi vẫn kiên trì giữ lệ vật năm keo vào dịp đầu xuân đúng nghi thức và quy tắc truyền thống. Ngày xưa, hội thường mở mỗi năm một lần. Đến thời Pháp thuộc thì ba năm mới mở một lần, bắt đầu từ sáng mùng 5 Tết và kết thúc vào chiều ngày mùng 10 tháng Giêng. Vì mở đúng vào dịp Tết Nguyên Đán, nên hội vật võ đã trở thành hơi thở, thành cái nếp ăn Tết đón xuân của người dân nơi đây.
Người ta lo sửa soạn cho Tết cũng là lúc chuẩn bị cho hội vật võ, từ việc dọn sạch đường gạch vào làng, quét tước đền Thánh, dọn dẹp sân vật, dựng rạp đón khách khứa, cho đến việc sắm khố, sắm khăn mới cho các đô vật, chuẩn bị cờ xí và làm những món đặc sản để dự thi. Một không khí hội hè náo nức bao trùm lên toàn bộ đời sống xóm làng ngay từ ngày 28 tháng Chạp.
Nghi Thức Tâm Linh Và Luật Lệ Sới Vật Khắt Khe
Sáng mùng 5 Tết, cả làng chính thức vào hội. Mở đầu là lễ Rước Thánh vào dóng. Thánh ở đây chính là vị anh hùng họ Đoàn được thờ ở ngôi miếu cách khu vật võ độ một ki-lô-mét. Đám rước diễn ra nghiêm trang, mang đậm tinh thần thượng võ, giống như lời vè cổ tả lại:
“… Giáo dàn mặt đất chói lòa
Kiếm vung, gậy múa sao sa cõi trần
Reo hò bão cuốn mây vần
Trống chiêng vang vọng chín tầng trời cao
Đô vật tựa sóng ào ào
Mình trần khố gọn, khăn đào thắt ngang
Pháo mừng dậy đất tùng tràng…”
Một nét rất đáng chú ý trong ngày lễ là việc tế chay. Vật tế lễ chỉ gồm có oản, chuối và nước trà xanh, tuyệt đối không dùng đến rượu. Tiếp theo là lễ Phát hỏa, một ngọn lửa thật sáng tượng trưng cho tinh thần yêu nước nồng nàn được đốt lên. Khi ngọn lửa gần tàn, ông Trùm — người cao tuổi và có uy tín nhất được cử ra cầm trống cái trong hội — sẽ trao chiếc gươm thánh và chiếc khăn đào cho đô vật danh dự. Người trong làng gọi đây là lễ trao gươm và thắt khăn đào. Sau đó là lễ múa cờ tụ nghĩa do hai hoặc bốn người trình diễn, những lá cờ nghĩa màu đỏ hình vuông tiến từ hai bên kiệu Thánh ra giữa dóng vật theo nhịp trống giục. Cuối cùng là lễ thành động, cử hành sau hồi trống hiệu nổi lên cùng những tràng pháo nổ hòa cùng âm thanh của cồng, mõ, thanh la tại khu vật võ và tất cả các đền, chùa trong vùng.
Xong phần lễ nghi kính cẩn thì bước sang phần thi đấu vật với những luật lệ được quy định từ xưa rất chặt chẽ. Làng sẽ chiếu cố theo sổ bộ của năm qua, gọi hai anh bé trai nhỏ tuổi nhất làng ra vật năm keo để trình làng, lễ Thánh. Nếu các em còn quá nhỏ, chưa biết bò biết đi vững thì người bố hoặc người ông phải ra sân thay thế. Tục này mang tên là “Năm keo trai rốt”, mang một ý nghĩa sâu xa: Trai ở Liễu Đôi sinh ra, trước hết muốn làm người thì phải là trai biết vật võ. Ở đây có một điều cấm kỵ cốt tử: những người bố hay người ông ra thay chỉ được vật vờn nhau — tức là vật biểu diễn làm phép, chứ không phải để ăn thua, nếu lỡ tay vật ngã nhau thật thì làng sẽ bắt vạ cả hai người.
Sau màn Năm keo trai rốt, bao giờ cũng đến lệ “Đô xá làm nền”. Nghĩa là các đô vật của làng Liễu Đôi sẽ giao đấu trước, vừa để chào mời, vừa để kích thích tinh thần kích liệt của các đô vật tứ phương với tư cách là chủ nhà. Sau màn chào sân đó, họ sẽ chủ động rút lui ra ngoài, nhường dóng vật lại cho các đô vật bên ngoài vào tranh tài.
Bức Tranh Ngày Xuân Cả Vùng Trẻ Lại Và Nghi Lễ Chém Chữ Đêm Giao Thừa
Cái đặc điểm khiến tôi tự hào nhất về Hội vật Liễu Đôi là nó không chỉ thu hút cánh đàn ông hay lớp trai trẻ dẻo dai, mà hầu như tất cả dân làng, từ đàn ông, đàn bà, già trẻ, trai gái cho đến các em bé đều tham gia. Hội mở ra một cái là cả vùng như trẻ lại. Gần như mọi nhà vào ngày ấy đều đóng cửa im lìm để ra dự hội. Các bà già, các chị trung niên đứng xem vật võ cũng hò hét cổ vũ nồng nhiệt, bình luận và tranh cãi sôi nổi về miếng võ này, thế võ nọ, khen chê rạch ròi quanh một keo vật. Trẻ con từ 5, 6 tuổi cũng cởi trần, đóng khố vào dự thi. Thậm chí các cụ già đã vượt quá tuổi “cổ lai hy” vẫn hăng hái vào cuộc, tham gia biểu diễn côn, quyền, kiếm, kích đầy khí lực.
Bên cạnh sới vật, Liễu Đôi còn lưu giữ một số tập tục mang đậm tinh thần truyền thống dựng nước và giữ nước như tục thi nói vè nối đêm, thi món ăn đặc sản, và đặc biệt nhất là lễ Chém chữ (tức lễ Trảm tự) vào giữa đêm 30 Tết.
Tương truyền xưa kia có một vị tướng đời Trần đã về dải đất này tổ chức thao luyện binh sĩ, khi xuất quân đánh giặc có để lại cho 5 làng vùng Liễu Đôi một tập binh thư có tên là Võ trận. Tập sách ấy được coi như báu vật quốc gia và được bảo vệ vô cùng cẩn thận, bí mật. Từ đó, trải qua nhiều đời, cứ đến đêm 30 Tết, tại chùa Ba Chạ lại tổ chức lễ Chém chữ.
Gần đến thời khắc giao thừa, các tộc trưởng đại diện cho các dòng họ trong thôn, sắm sửa áo lễ, đeo gươm báu quỳ trước bàn thờ Thánh. Ở trước mặt các cụ có trải một băng giấy ghi tất cả những chữ đầu trang của tập Võ trận. Đúng vào giây phút giao thừa thiêng liêng, tất cả đèn nến đều vụt tắt, mỗi tộc trưởng rút gươm chém một nhát dứt khoát trên băng giấy. Khi đèn bật sáng trở lại, người ta sẽ căn cứ vào đoạn băng giấy bị chém trúng để xem xét rơi vào chữ nào, ứng với trang nào của tập Võ trận. Từ đó, làng tổ chức hướng dẫn, động viên con cháu học tập, rèn luyện cách thức binh pháp để bảo vệ đất nước. Đằng sau cái nghi thức có vẻ huyền bí ấy, lễ Chém chữ phản ánh rõ nét ý thức sâu sắc của các thế hệ dân cư trong sự nghiệp bảo vệ quê hương.
Nói tóm lại, đến với Liễu Đôi dịp đầu xuân, ngoài việc ôn lại tinh thần truyền thống oai hùng, chiêm ngưỡng nét đẹp văn hóa địa phương và tham gia các cuộc thi tài, khách thập phương còn được thưởng thức những thú vui thanh tao như hát đối đáp, nghe những khúc dân ca trữ tình nơi đất đồng chiêm. Và đặc biệt, không thể bỏ qua cơ hội thưởng thức những món đặc sản do bàn tay khéo léo của các bà, các chị mang đến hội thi tranh tài như: lươn nấu măng, gà đồng (ếch), ốc bồ hóng, chè bà cốt, hay những giọt rượu tăm nồng đượm tình quê.
