| Đối tượng suy tôn: | Bà chúa bèo dâu. |
| Thời gian mở hội: | Mồng 4 tháng giêng. |
| Địa điểm: | Sân đình. |
| Đặc điểm: | Ương bèo dâu và diễn trò trình nghề. |
Người trong nghề làm ruộng như chúng tôi, cứ nhắc tới làng Miên, La Miên hay còn gọi là La Vân (thuộc xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình) là lại thấy kính nể. Cái làng này nổi tiếng với một cái nghề nông kỳ lạ lắm: nghề ương bèo hoa dâu. Mà đâu chỉ có vậy, con gái làng La Vân ngày xưa cũng nức tiếng gần xa nhờ đôi bàn tay giỏi giang trồng bông, dệt vải. Lượng bèo giống được ương tại đây không những đủ bón cho những cánh đồng trong vùng, mà còn cung ứng cho khắp các huyện, các tỉnh lân cận có nghề này. Đến thời vụ, người tứ xứ đổ về làng Miên mua bèo giống đông vui như đi trẩy hội, đúng với câu ca mà người xưa vẫn truyền tai nhau:
“Lúa chiêm mà thả kín bèo
Như con nhà nghèo trời đổ của cho.”
Nói về cái hay của bèo hoa dâu thì người làm nông ai cũng tường. Cứ thả bèo vào là lúa bén chân nhanh như thổi, lại mát đất, chẳng gây ô nhiễm môi trường chút nào; mỗi người, mỗi nhà đều có thể tự ương rồi mang ra dùng cho kịp thời vụ. Các cụ dạy cấm có sai bao giờ, trong kỹ thuật thâm canh của nghề nông thì “nhất nước, nhì phân”, phân bón chính là thành tố quan trọng thứ hai sau nguồn nước.
Cũng giống như nhiều làng quê Bắc Bộ khác, khi đất trời vào xuân là làng La Vân lại mở hội đình. Sau ba ngày vui Tết ngắn ngủi, đúng sáng mùng 4 tháng Giêng, đình làng đã rộn rã tiếng trống hội ương bèo hoa dâu và trình nghề “tứ dân”. Dân chúng làng trên xóm dưới cứ nghe tiếng trống mời gọi là rủ nhau đổ về sân đình mỗi lúc một đông, chen chúc, xô đẩy nhau vòng trong vòng ngoài, bao kín cả khoảng sân đình rộng lớn.
Cái cốt lõi của hội trình nghề là biểu diễn những hoạt động nghề nghiệp đời thường với lòng cầu mong “thóc lúa để đa”, “thiên hạ thái bình”. Các “diễn viên” trên sân khấu chẳng phải ai xa lạ, chính là những thanh niên trai tráng của bảy giáp trong làng lần lượt ra diễn trò.
Náo Nhiệt Tiếng Trống Khai Hội Và Lời Giáo Đầu Của Các Giáp
Trong đình, sau khi các phần nghi lễ cúng bái xong xuôi, vị chủ trò – một lão nông có tuổi trong làng – bước ra điều khiển cuộc vui. Đầu đội khăn xếp, áo dài màu vàng, quần trắng, gương mặt ông cụ vừa nghiêm trang nhưng cũng vừa tươi tắn, thu hút toàn bộ sự chú ý của bà con. Tiếng trống gióng lên 3 hồi 9 tiếng rộn rã rồi lắng dần đi. Vị chủ trò trịnh trọng dẫn các “con trò” vào lễ tạ thành hoàng, chúc cho dân làng một năm mới làm ăn phát đạt gấp năm, gấp mười năm ngoái. Làm lễ xong, ông mới ra lệnh cho “chiêng cờ” dẫn từng tốp “con trò” của từng giáp ra sân.
Làng có tất thảy 7 giáp nên cũng có 7 ông “chiêng cờ”. Chiêng cờ phải là những ông già trên dưới 60 tuổi, dáng vẻ quắc thước, và phải “sạch bụi” (nghĩa là trong năm nhà không có tang). Các cụ mặc áo lương, quần trắng, chân đi giày hạ, tay cầm cây cờ thần. Đến lượt giáp nào thì ông chiêng cờ của giáp ấy chạy ra sân làm điệu bộ: vừa chạy vừa miết mũi bàn chân xuống sân đình, bộ dạng trông lâu ta lâu táu, miệng thì đọc lời giáo đầu tếu táo khiến dân chúng được phen cười vỡ bụng. Các vai diễn đều được hóa trang theo lối cường điệu, cầu kỳ và ngộ nghĩnh, miễn sao gây được tiếng cười mạnh mẽ nhất. Những trò này tuy không xa lạ với trò tứ dân bách nghệ ở các nơi khác, nhưng cách trình diễn của La Vân thì độc đáo hơn nhiều, bởi lẽ với mỗi giáp, cách sắp xếp 4 trò diễn “sĩ, nông, công, thương” không nhất thiết phải theo một trật tự chung nào cả.
Tái Hiện Bốn Nghề Sĩ – Nông – Công – Thương Dưới Sân Đình
Trò Nông: Tiếng Cười Trên Mảnh Ruộng Bèo Dâu
Tại sân khấu của trò trình nghề phía trước đình, người ta đã đắp đất khoanh vùng một khoảng rộng tượng trưng độ 50 – 60 m2, đổ đầy nước và thả kín bèo hoa dâu xanh mượt từ những ngày trước đó. Trò nông được bắt đầu ngay tại mảnh ruộng giả định này.
Một anh chàng lực điền giắt chiếc điếu cày ngang lưng, mặc bộ đồ nâu bạc màu, đầu chít khăn đầu rìu màu đỏ, tay cầm roi tre, vai vác chiếc cày làm bằng bẹ chuối, nghênh ngang dẫn trâu ra ruộng. Tiếng cười giòn giã của bà con lập tức nổi lên. Con trâu này do một trai đình đóng giả, bộ dạng vụng về phát tội. Đầu trâu làm bằng chiếc gàu giai phết giấy màu xanh đỏ, đôi mắt vẽ to tướng như cái chén; còn thân trâu chỉ là chiếc bồ rách phủ thêm tấm chăn cũ kỹ. Chàng lực điền luôn miệng hét “vắt vắt”, “thọ thọ”, thỉnh thoảng lại vung roi tre quất trâu đen đét làm “con trâu” ngơ ngác chẳng hiểu vì sao mình bị đòn, còn người đóng giả trâu thì phải ngậm miệng chịu trận để làm trò cười cho cả làng.
Trên mảnh ruộng bì bõm nước ngập bèo dâu ấy, các cô thợ cấy bước ra, tay cầm mấy bó mạ non. Đầu các cô chít khăn mỏ quạ, má hồng, mắt đen láy trông rất có duyên, ngặt nỗi váy lại xếch, yếm nhuộm màu vỏ già lại còn độn ngực quá cỡ lộ liễu, thô kệch — bởi vì thực chất các vai này đều do con trai đóng giả. Trâu thấy mạ non thèm quá, liền ghé chân liếm nhánh lúa thế là bị quất túi bụi. Chú trâu hoảng hốt nhảy chồm lên bờ, làm nước vẩy bạt mạng, bùn văng tung tóe lên cả thợ cấy, thợ cày lẫn các cô thôn nữ đứng xem xung quanh, khiến đám trẻ con được dịp la thét lên vì sung sướng.
Trò Sĩ: Lớp Học Hài Hước Của Ông Thầy Đồ
Trò sĩ tiếp diễn ngay sau đó ở một góc sân sát thiên đình. Ông thầy đồ xuất hiện nghiêm chỉnh trong bộ quần áo chùng thâm, một tay cầm roi mây cùng chiếc bút lông to như cái chổi, tay kia thì bận nắn lại vòng khăn xếp. Bộ râu vẽ quặp làm cho gương mặt ông vừa oai nghiêm lại vừa hài hước. Mặt ông cứ hầm hầm, dáng vẻ dọc ngang dạy chữ thì ít mà ra uy, ra oai thì nhiều, tay cứ nhăm nhăm phết roi vào đít học trò.
Anh học trò nho sinh đi sau thầy, bộ điệu thì cố tỏ ra ngoan ngoãn nhưng quần áo lại xộc xếch ống cao ống thấp, áo dài màu cháo lòng, tay vấy đầy mực đen, nách cắp cái tráp, mắt mũi lấm lét như sợ thầy nện. Hai thầy trò chiếm một góc sân, thầy ngồi khoanh tròn trên chiếu, sách mở sẵn đặt trên tráp. Trò đứng bên cạnh chắp tay, mắt ngơ ngác nhìn vào đầu cây roi mây ở tay thầy nhiều hơn là nghe lời giảng. Thầy hỏi, trò đáp. Thầy quát một tiếng là trò dúm người lại, thỉnh thoảng thầy lại bắt trò nằm xuống phết cho mấy roi vì tội học hành dốt nát, viết “chữ tác thành chữ tộ”. Mỗi lần bị đòn, anh nho sinh lại cuống quýt đưa tay xoa mông xuýt xoa, làm dân chúng, nhất là tụi trẻ con lại được một phen cười rộ.
Trò Công: Bác Thợ Mộc Và Khúc Gỗ Chuối
Tiếp đến là trò công của bác thợ mộc. Đầu chít khăn, mặc chiếc áo vạt dài vạt ngắn, bác khệ nệ vác một khúc gỗ to tướng (mà thực ra chỉ là một đoạn thân cây chuối) đem đặt ngay giữa sân khấu. Biểu diễn nghề thì phải có đồ nghề, bác quay ra soạn một bộ đồ lủng củng nào cưa, nào đục, chàng, bào dài, bào ngắn, rồi cả ống mực, thước đo góc…
Xong xuôi, bác hì hục làm các động tác cưa xẻ, bào, đục, đẽo. Vừa làm, bác vừa phồng má, nhắm một mắt ngắm nghía thanh gỗ, rồi lại đưa tay quệt mồ hôi trên trán ra chìu mệt nhọc, vất vả lắm. Vết than hóa trang hàng lông mày kéo thành vệt dài từ thái dương ra đến tận màng tai làm cho khuôn mặt bác càng thêm phần hài hước. Bác lại cưa, lại đục, lại đo đi đo lại, trông thì bận rộn tíu tít thế thôi chứ chẳng đâu vào với đâu cả.
Trò Thương: Gánh Hàng Rong Của Ông Bán Dạo “Dở Hơi”
Trò công còn chưa diễn xong thì một ông bán dạo gánh cặp bồ to tướng bước vào, chân đi ngúng nguẩy, đôi mông độn cao lúc la lúc lắc theo từng nhịp bước, bắt đầu cho trò thương. Đến giữa sân, ông ta đặt gánh xuống, lôi hàng hóa ra bày biện. Thôi thì đủ thứ trên đời, từ chiếc bánh đa vừng nướng nửa chín nửa sống, tới cành táo, chùm sung, rồi bánh kẹo, vải vóc cắt bằng giấy màu… được bày ra la liệt trên mặt đất. Ông ta cứ xếp đi rồi lại xếp lại, nhưng ngặt nỗi càng xếp lại càng thấy bừa bãi, lộn xộn.
Xong xuôi, ông cất giọng vừa rao bán vừa xướng giá từng loại theo kiểu vần vè, ai nghe cũng phải tức cười. Giá cả thì mỗi lúc một khác, y như một người dở hơi: cái đáng giá thì bán rẻ như bèo, còn cái thứ không có giá trị gì thì lại được hét giá cao tận trời xanh. Lúc này, có thêm mấy người khác bước ra đóng vai người đi chợ mua hàng. Người bán người mua đứng mặc cả, nhặt lên bỏ xuống, trao đổi nói cười rôm rả chẳng khác gì một phiên chợ thật ngoài đời.
Bốn trò diễn của một giáp khép lại giữa những tràng vỗ tay hoan hô vang dội của khán giả xung quanh. Ngay sau đó, giáp thứ hai bước ra sân đình. Ông chiềng cờ đại diện cho giáp nói vài câu giáo đầu với bà con: “Chiềng tôi xin diễn lại tích trò cổ nhân, ới…”. Và cứ thế, các trò sĩ, nông, công, thương lại được tiếp diễn theo bài bản riêng của giáp đó với những chi tiết độc đáo, bất ngờ hơn để tạo tiếng cười cho dân làng.
Dư Âm Ngày Xuân Ở Làng Khép Kín
Cuộc vui cứ thế kéo dài liên tục cho đến tận nửa đêm, khi giáp cuối cùng (giáp thứ 7) hoàn thành xong phần trình diễn bốn nghề của mình. Hội trình nghề La Vân thực sự là dịp để những người nông dân chân lấm tay bùn có cơ hội phát huy tột bậc khả năng vui nhộn, khiếu hài hước của mình, mang lại một ngày hội đầu xuân vui tươi, hởi dạ. Dân chúng được một bữa cười no nê, thoải mái, có người cười chảy cả nước mắt, có người ôm bụng mà cười, còn lũ trẻ con thì thi nhau la hét, hò reo sung sướng…
Tuy cái tên gọi của ngày vui này là hội trình nghề “tứ dân”, nhưng cái bụng người xem đều hiểu trọng tâm vẫn xoay quanh nghề nông nghiệp, nằm trong khuôn khổ một thứ “văn hóa làng” khép kín còn in đậm những dấu vết cổ xưa. Trải qua bao năm tháng, ngày hội vẫn mang trọn vẹn bóng dáng của ngày lễ xuống đồng đầu xuân vốn đã có từ lâu đời của ông cha.
