Hội Pháo Đổng Kỵ Bắc Ninh: Tiếng Sấm Đầu Xuân Khơi Dậy

Đối tượng suy tôn: Thiên Cương đế (thượng đẳng thần) và Thần Nông.
Địa điểm: Làng Đồng Kỵ, xã Đồng Quang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Thời gian: Mồng 4 đến mồng 6 tháng giêng (chính hội mồng 4 tháng giêng).
Đặc điểm: Rước hình sinh thực khí. “Tranh cột Thái Bạch” biểu tượng tinh thần thượng võ và tục “Xô ông đám”. Thi đốt pháo cực đại và pháo tràng.

Người trong nghề làm pháo và giữ hội chúng tôi, cứ mỗi độ tháng Chạp gõ cửa là cả làng lại rậm rịch, thấp thỏm đứng ngồi không yên. Làng Đổng Kỵ chúng tôi, tên nôm cổ từ đời xửa đời xưa gọi là làng Cời. Ngày trước làng thuộc tổng Nghĩa Lập, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; xưa hơn nữa thì có tên là thôn Nam Trang, tổng Nhân Hậu, phủ Từ Sơn thuộc trấn Kinh Bắc oai hùng; còn bây giờ là thuộc xã Đồng Quang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Khách thập phương từ thủ đô Hà Nội muốn về ăn hội, cứ đi ngược quốc lộ 1A tầm 18 km tới thị trấn Từ Sơn, rẽ trái qua đường xe lửa rồi đi tiếp 2 km nữa là chạm đất làng Cời.

Cái hay của làng Đổng Kỵ là ngắm nhìn từ xa đã thấy nét cổ kính. Đình làng rợp bóng cây cổ thụ, trước mặt có dòng sông nhỏ lững lờ trôi, bên phải là ngôi chùa làng cũng thâm nghiêm không kém. Cảnh tượng đình, chùa, bến nước với cây đa cổ thụ ấy đã tạo nên cái hồn cốt quen thuộc, ấm áp của làng quê Bắc Bộ thuở trước. Cả đình và chùa Đổng Kỵ nay đều đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia rồi. Thuộc bộ Vũ Ninh từ thời các vua Hùng, dải đất cổ này đã chứng kiến biết bao biến thiên lịch sử, nhờ vậy mà ngày hội cổ truyền của ông cha để lại vẫn bảo lưu được nhiều phong tục cổ lạ lùng và quý báu lắm.

Hằng năm, cứ sau ba ngày Tết Nguyên Đán, dân Hà Nội cùng người bốn phương lại nườm nượp kéo về đây để dự Hội pháo Đổng Kỵ, mà các cụ quen gọi là hội pháo Đình Cời. Nói thì dễ, nhưng để có được ba ngày hội, từ tháng Chạp năm trước, cả làng đã phải họp bàn việc vào đám mừng xuân, lập ra ban khánh tiết lo liệu việc tổ chức bên trong và giao tiếp bên ngoài chu toàn.

Kỹ Nghệ Làm Pháo Thờ Linh Thiêng Của Người Làng Cời

Để chuẩn bị làm pháo thi, trước đó cả tháng trời, các gia đình được giao trách nhiệm đã phải lo toan đâu vào đấy. Vì đây là pháo dùng cho việc thờ thần thánh, tâm linh nên mọi công đoạn đều phải cẩn trọng, giữ gìn thanh khiết tuyệt đối. Ai cũng mong nhà mình làm khéo để được may mắn cả năm, nên chuyện kích cỡ pháo, bí quyết gia truyền đều được giữ kín mít, cốt sao cho quả pháo nhà mình to đẹp hơn, nổ giòn giã hơn nhà khác.

Người trong nghề chúng tôi vẫn hay kể cho con cháu nghe về năm 1923, cái năm mà làng làm ra quả pháo kỷ lục dài tới 15 mét, đường kính to cả mét, nhìn sừng sững không khác gì quả tên lửa thời hiện đại. Có năm, số lượng pháo dự thi lên đến hơn 50 quả, dân làng đốt suốt từ sáng đến tối mịt vẫn chưa hết. Ngày nay, để đảm bảo an toàn, pháo thờ thường chỉ làm dài từ 4 đến 6 mét mà thôi.

Cái thớ giấy, nét vẽ trên quả pháo Đổng Kỵ nó không đơn thuần là đồ chơi, mà là một lễ vật linh thiêng, một công trình kỹ thuật và mỹ thuật rất cao. Toàn thân quả pháo đại được dán giấy đỏ rực rỡ, xung quanh bồi thêm giấy trang kim lánh lánh. Đặc biệt nhất là phần ngòi nằm ở chính giữa thân pháo, được tạo hình miệng rồng ngậm hoa sen. Đến lúc châm ngòi, lửa phun ra phần phật từ miệng rồng, trông oai nghiêm và đẹp mắt vô cùng.

Nghi Thức Rước Pháo Thờ Và Cuộc Thi Đốt Pháo Đầy Kịch Tính

Tục truyền rằng vào ngày mùng 4 Tết, Đức Thánh Thiên Cương cùng các tướng sĩ dẹp xong giặc loạn Xích Quỷ và chiến thắng trở về. Vì lẽ đó, dân làng chọn đúng ngày này để tổ chức cuộc rước pháo, thi đốt pháo cùng tục “Dô ông đám”. Ngày xưa hội pháo kéo dài đến 20 ngày, nay rút gọn lại còn 3 ngày, từ mùng 4 đến mùng 6 tháng Giêng, nhưng cái chất thượng võ thì không hề giảm.

Từ sáng tinh mơ mùng 4, các ngả đường dẫn về đình làng đã nhộn nhịp, vang vọng tiếng người cười nói đi rước pháo. Trên đường đi, các gia đình làm pháo lần lượt nhập vào đoàn rước theo thứ tự định sẵn: pháo nhất đi tiên phong, quả pháo thứ năm đi sau cùng. Dẫn đầu đoàn rước dài hàng ki-lô-mét là lá cờ hội lộng gió, kế đến là tiếng nhạc reo vui của phường bát âm, các kiệu thờ, ban khánh tiết và các cụ phụ lão đức cao vọng trọng. Tiếp theo sau là những quả pháo đại khổng lồ được khiêng trên vai những trai tráng khỏe mạnh. Người đi rước cứ vừa đi vừa hô to vang cả xóm:

“Mừng cho pháo ta một tiếng này i a…”

Không khí sôi động ấy kéo dài cho đến khi quả pháo thứ năm và tràng pháo thứ năm về tới sân đình. Lúc này, bốn ông quan đám cùng ban khánh tiết mới trịnh trọng tiến vào nội cung để làm các nghi thức lễ thánh.

Đến đúng 13 giờ chiều, cuộc thi đốt pháo chính thức bắt đầu. Làng quy định đốt ngược thứ tự: mở đầu từ tràng pháo thứ năm, rồi đến quả pháo thứ năm, cứ thế lần lượt ngược lên cho tới tràng pháo và quả pháo thứ nhất (ông cha gọi là pháo chấp hiệu). Các chủ pháo đầu chít khăn nhiễu đỏ, áo tơ quấn trắng, thắt lưng lụa đỏ chỉnh tề, tay cầm cây hương đang cháy đỏ rực tiến 3 bước về phía bàn thờ vái 3 vái. Sau đó, họ đi vòng quanh quả pháo rồi dứt khoát châm ngòi giữa sự hồi hộp, nín thở của hàng nghìn cặp mắt đang dõi theo.

Pháo nổ ầm trời như sấm dậy, xác pháo bay tung tóe đỏ rực cả góc sân, khói tỏa mù mịt hòa cùng tiếng chiêng, tiếng trống âm vang và tiếng reo hò náo nhiệt. Sức nổ của pháo đại ngày xưa lớn lắm, có năm pháo nổ làm bay cả ngói đình. Do tính chất ganh đua, xưa kia người ta làm pháo to đến mức có nhà phải phá cả tường cổng mới khiêng được pháo ra ngoài. Bây giờ, việc thi pháo được quy định chặt chẽ, khoa học hơn để đảm bảo an toàn nhưng vẫn giữ nguyên tiêu chuẩn kỹ thuật: quả pháo nào nổ giòn, tan xác hoàn toàn thì được giải; còn pháo tràng thì phải nổ đều, đanh tiếng.

Làm một quả pháo đại tốn phí cả tấn lúa chứ chẳng chơi, trong khi giải thưởng của làng thì đạm bạc, mộc mạc lắm. Nhưng bao đời nay, người dân làng Cời không ai so đo chuyện tiền nong ấy. Dù cho giải nhất chỉ lĩnh một chiếc bánh giầy, một quả cam, một tầm mía với một miếng trầu, thì niềm vui của người thắng cuộc vẫn là vô bờ bến. Người làng chúng tôi quen nghĩ theo lối truyền thống rồi:

“Một miếng lộc thánh bằng gánh lộc trần.”

Tục Dô Ông Đám Và Tín Ngưỡng Phồn Thực Độc Đáo Đất Kinh Bắc

Thi đốt pháo xong xuôi, các chủ pháo vừa lui ra là tiếng chiêng trống lại nổi lên dồn dập để báo hiệu trò mới: “Dô ông đám” — một cái tục sôi động và hởi dạ không kém. Các ông đám vẫn giữ nguyên trang phục tế lễ, ngồi xếp bằng bên trong đình và được các trai đình thuộc các hàng giáp vào công kênh lên vai, rước ra sân. Ngồi trên vai các chàng trai lực điền, bốn ông quan đám cứ hoa tay múa chân, cười nói hồn nhiên như đứa trẻ. Các kiệu bằng tay chạm rước cũng xoay tròn tại chỗ trên sân đình theo hướng ngược chiều kim đồng hồ. Dân chúng đứng vòng quanh cứ thế vỗ tay, hò hét tán thưởng vang động cả một vùng.

Sang đến ngày mùng 5, sân đình và các khu đất trống xung quanh tiếp tục đón bà con đến chơi các cuộc thi đấu vật, chọi gà, cờ tướng, bắt chạch trong chum, hay bịt mắt bắt dê… Đến mùng 6, từ lúc tinh mơ, cửa đình mở rộng để đón những mâm bánh giầy tinh khôi của các giáp đem đến dự thi và dâng lên kính Thánh. Cái tục thờ bánh giầy này là để ghi nhận công lao trồng trọt và cái tài chế biến nông sản của tổ tiên ta từ thuở khai hoang lập ấp.

Đặc biệt nhất là vào ngày mùng 6, làng có tục rước hình sinh thực khí từ đền về đình. Đám rước này đơn giản, do một lão nông khỏe mạnh, đức độ, con cái có đủ nếp đủ tẻ dẫn đầu. Ông cụ tay cầm hai lễ vật tạc hình sinh thực khí nam bằng gỗ và sinh thực khí nữ bằng mo cau. Tới đình, sau khi lễ thánh xong, cụ bước ra trước sân cử hành “vũ điệu âm dương”, lồng hai vật vào nhau cấu thành 3 lần. Dân làng đứng chen chúc vòng trong vòng ngoài chỉ chờ có thế, khi ông cụ tung hai “của quý” ấy lên cao là lao vào đua nhau cướp lấy để cầu may. Hoạt động này vốn bắt nguồn từ tín ngưỡng phồn thực nguyên thủy, cầu mong sự sinh sôi, nảy nở của con người và vạn vật, được bộc lộ một cách vừa trần tục nhưng cũng vừa tế nhị qua lễ hội.

Bên cạnh đó, cái tục cầu nước cũng được thể hiện rõ nét qua tiếng pháo. Người làm ruộng như chúng tôi có kinh nghiệm nằm lòng rồi: “Lúa xuân lấp ló đầu bờ, hễ nghe tiếng sấm, phất cờ mà lên”. Nước đối với nhà nông lúc nào cũng xếp hàng đầu. Vì vậy, khi trời đất chưa có sấm, chưa có mưa đầu mùa, người làng Cời mượn tiếng pháo đại nổ chói tai để tượng trưng cho tiếng sét, mượn tiếng pháo tràng đanh giòn làm âm thanh của sấm rền kéo dài. Đó chính là tiếng lòng cầu mong thần linh phù trợ, đánh thức đất trời đưa nước về cho đồng ruộng tươi tốt.

Về với Hội pháo Đổng Kỵ đầu xuân, bước chân vào cửa đình, ngắm nhìn những quả pháo khổng lồ cùng kỹ nghệ làm pháo độc nhất vô nhị, chứng kiến những trò diễn, tục cổ lạ lùng, khách thập phương mới càng thêm yêu, thêm quý cái tài hoa, nghĩa khí của những con người trên dải đất Kinh Bắc văn hiến.