Hội Lim – Khúc ca giao duyên nồng nàn

Đối tượng suy tôn: Vua Bà. Thờ ông Hiếu Trung Hầu, người sáng lập tục hát quan họ.
Địa điểm: Đồi Lim, chùa Lim, thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Thời gian: Ngày 13 tháng giêng.
Đặc điểm: Hát quan họ và tục kết bạn, kết chạ.

Người làm nghề như chúng tôi, quanh năm bầu bạn với thớ gỗ, gạch gốm hay cây đục, nhưng cứ hễ nghe câu hát “Người ơi, người ở đừng về…” vang lên là lòng dạ lại xốn xang hướng về vùng đất Kinh Bắc xưa. Dân ca quan họ nổi tiếng không chỉ nhờ lời ca trữ tình, nồng nàn yêu cuộc sống và tình yêu lứa đôi với hơn 200 làn điệu âm nhạc đặc sắc, mà còn bởi những nét văn hóa hiếm nơi nào có được.

Nói về quan họ, người ta nghĩ ngay đến một giá trị tổng thể bao gồm từ lề lối hát, cách tổ chức phường bạn, bóng dáng các nghệ nhân cho đến tinh thần kết chạ của cả một vùng văn hóa. Từ lời ăn tiếng nói hằng ngày đến lối ứng xử trong ngày hội, người quan họ lúc nào cũng từ tốn, phong nhã. Tục kết chạ giữa các làng, kết bạn giữa các “bọn” quan họ đã duy trì nếp sống đạo đức tốt đẹp cho tới tận mai sau. Người chơi quan họ đều là “liền anh”, “liền chị” và bao giờ cũng khiêm nhường tự xưng là “liền em”. Dù tình cảm có thân thiết tới đâu, lệ chơi vẫn giữ đúng mức tình bạn – đối với những người đã có gia đình – và gắn bó bền chặt như thế cho tới suốt cuộc đời.

Thời gian, địa điểm và đối tượng suy tôn tại hội Lim

Có tới 49 làng hát quan họ nằm rải rác trong 4 huyện, thị phía Nam tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Thế nhưng, cứ nhắc tới loại hình dân ca này là ai ai cũng nghĩ ngay đến hội Lim. Lim là tên nôm của thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Hội được mở trên đồi Lim, nơi có ngôi chùa Lim cổ kính (còn mang tên là Hồng Vân Tự). Trong các hội hát quan họ thì hội Lim là đông vui và nổi tiếng nhất. Lễ hội diễn ra vào ngày 13 tháng giêng âm lịch hằng năm, đúng vào phiên đầu năm của chợ Lim, nhằm suy tôn Vua Bà và thờ ông Hiếu Trung Hầu – người đã có công sáng lập ra tục hát quan họ truyền thống.

Hành trình tập dượt và sự chuẩn bị chu tất trước ngày hội chính

Nói thì dễ nhưng để có một ngày hội Lim thăng hoa, người dân và các “bọn” quan họ đã phải lo toan chuẩn bị từ tháng một, tháng chạp năm trước. Các “bọn” họp nhau hằng đêm để ôn luyện lời ca, tiếng hát, rồi mời “bọn” khác đến hát đối đáp để vừa vui chơi, vừa thử sức nhau.

Ra giêng, khi bánh chưng Tết vừa xong, nhận lời mời của nhau, từng đoàn liền anh liền chị lại đi hát khắp nơi để tập dượt, thăm dò những tài năng mới. Qua những buổi giao lưu này, người ta sẽ chọn ra những “bọn” hát tốt nhất để mời về dự hội làng mình. Khách mời của hội Lim thì không thể thiếu các bạn từng kết chạ từ lâu như làng Tam Sơn, Bịu Sơn. Làng cũng tính toán kỹ để không mời quá số lượng “bọn” mà địa phương có thể đón tiếp chu đáo. Đó là cái lệ dành cho lối hát trong nhà; còn hát ngoài đồi hay dưới thuyền thì tự do hơn, ai hát được đều có thể tìm về đồi Lim để kết giao bạn mới.

Nét văn hóa thính phòng cổ truyền qua lối hát trong nhà

Đón khách về nhà chơi, người quan họ chủ phải sửa soạn chu toàn mọi bề, từ việc tiếp khách, ăn uống cho đến thu xếp chỗ ngồi hát sạch sẽ. Từ sáng sớm ngày 13, các liền anh liền chị đã kéo tới nhà đăng cai để phụ giúp việc bếp núc, nấu nướng. Khi thấy bóng dáng khách đến, quan họ chủ lập tức ra tận cửa chùa đón tiếp, tay bắt mặt mừng rồi mời nhau vào thắp nén hương lễ Phật. Cả chủ và khách đều mặc áo quần khang trang, đẹp đẽ và đồng điệu gần như là đồng phục.

Họ chậm rãi đi vào làng, vừa đi vừa trò chuyện hàn huyên. Tới nhà, quan họ bạn có thể cất tiếng hát chào ngay một cách tự nhiên. Khi đó, chủ và khách cùng đỡ nón, cầm ô, đón nhau vào nhà rồi dâng trầu nước, hát mời bạn xơi. Cuộc hát bắt đầu ngay sau đó, cứ từng đôi một, mỗi bên một đôi đối đáp nhau theo lối đổi giọng hoặc đổi lời. Cuộc hát vừa giống như một canh thi tài, lại vừa như một buổi giao lưu tình cảm ấm cúng, mang đậm tính chất của một sinh hoạt nghệ thuật thính phòng cổ truyền Việt Nam. Cái độc đáo là họ hát “chay” hoàn toàn, không cần đến bất kỳ nhạc cụ nào đệm theo.

Hát đến trưa thì mâm cỗ cũng vừa làm xong để chủ mời bạn nghỉ tay xơi cơm. Cỗ quan họ ngày xưa nổi tiếng là to và sang trọng, câu chuyện bên chén rượu, mâm cơm lúc nào cũng từ tốn, nhẹ nhàng và thanh lịch. Buổi chiều, hai bên lại cùng nhau ra chùa thăm hội. Khi trời tối hẳn, cuộc hát đêm mới thực sự bước vào quy cách nghiêm ngẩn, đi đúng lề lối từ giọng “hừ la” cổ kính mở đầu, qua đoạn giao duyên ngỏ lời say đắm, rồi kéo dài cho đến tận canh ba, canh tư mới chuyển sang hát giã bạn đầy lưu luyến lúc rạng sáng.

Không gian phóng khoáng của lối hát ngoài đồi và hát trên thuyền

Bên cạnh không gian thính phòng trong nhà, hội Lim còn quyến rũ bước chân người trẩy hội nhờ hai không gian hát tự do bên ngoài trời:

Lối hát ngoài đồi phóng khoáng

Đồi Lim vốn rộng lớn, quang đãng, thế đất thoai thoải phủ một màu cỏ xanh mướt, chỉ có vài cây cổ thụ đứng che bóng bên chùa. Tiết trời mùa xuân ấm áp, nắng không gắt nên hát ngoài đồi diễn ra hoàn toàn ngoài trời. Dù trời có nắng hay không, lúc hát các liền anh đều che ô, còn liền chị thì dùng chiếc nón quai thao che nửa khuôn mặt. Cái ô, chiếc nón giúp người hát thêm phần duyên dáng, dễ giữ ý tứ với nhau, mà lúc cất giọng, âm thanh cũng nhờ đó mà trở nên ấm hơn, vang hơn. Hát trên đồi là lối hát tự do, đại trà, không cần ước định hay lề lối nghiêm ngặt nên không khí thay đổi liên tục, tạo nên sự chuyển đổi lứa đôi rất thoải mái, năng động.

Lối hát trên thuyền thơ mộng

Ngay cạnh đồi Lim có những ao hồ dài, làn nước trong sạch, rất thuận lợi cho việc tổ chức hát trên thuyền. Mỗi chiếc thuyền thúng chỉ chở hai đôi: hai nam và hai nữ. Hai bên phải hiểu rõ nhau và hẹn mời nhau từ trước, đã lên thuyền rồi là không có chuyện bỏ cuộc giữa chừng. Giữa cảnh trời nước mùa xuân đầy thơ mộng, tiếng hát quan họ cất lên tạo nên một cách thưởng xuân tinh tế, khiến người trong cuộc cứ muốn kéo dài mãi giờ phút bâng khuâng này.

Tục thi cỗ chay truyền thống tại đình làng

Song song với các canh hát rộn ràng, tại đình làng hôm ấy cũng diễn ra cuộc tế lễ trang nghiêm, đặc biệt có tục thi cỗ chay của nhà chùa để cầu sự “kiêng khem”. Người già bảo đây là dấu vết của lễ cúng chùa, cúng hậu cho bà “Mụ Á” – người tương truyền đã bỏ tiền túi ra mua nửa quả đồi Lim này để dựng nên ngôi chùa Hồng Vân.

Mâm cỗ chay đi thi phải được chuẩn bị rất khéo, có đủ xôi nén, oản phẩm, kẹo vừng, chè kho, cùng các loại mứt và nộm đủ vị chua, ngọt, bùi, béo. Mỗi mâm cỗ lại xếp thêm một bó mía đã tiện sẵn, một quả cam và một đĩa bánh gio quyện mật. Mỗi giáp trong làng sẽ làm đúng 6 mâm cỗ để mang ra đình thi tài. Sau khi dâng cúng tổ tiên và thần Phật xong xuôi, cỗ được hạ xuống để nam giới từ 15 tuổi trở lên cho đến các cụ thượng lão cùng nhau thụ hưởng lộc chùa.

Hội Lim cùng những làn điệu dân ca quan họ không chỉ là một sinh hoạt văn hóa nghệ thuật đặc sắc của xứ Kinh Bắc, mà đã trở thành tài sản quý báu chung của cả dân tộc. Trẩy hội Lim, chúng ta không chỉ được thưởng thức nghệ thuật biểu diễn độc đáo mà còn học được phong cách giao tiếp ứng xử rất đẹp trong đời sống thường nhật. Ghi nhận những giá trị biểu trưng ấy, vào năm 2009, Trung tâm UNESCO đã chính thức công nhận hát Quan họ là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.