Hội chùa Hương

 

Đối tượng suy tôn: Đức Phật Thích Ca, Phật Bà Quan Thế Âm, Mẫu (Tứ Phủ). Sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng tổ tiên.
Địa điểm: Xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội).
Thời gian: Từ mồng 6 tháng giêng đến 15 tháng ba. Chính hội từ 15 đến 20 tháng hai.
Đặc điểm: Một quần thể kiến trúc nhân tạo và thiên tạo dài 3 km, một danh lam nổi tiếng của đất nước.
Đặc sản: Rau sắng và mơ Hương Tích.

Đối với người Việt mình, không kể già trẻ lớn bé, cứ mỗi độ xuân về là lòng dạ lại hướng về Hương Sơn. Nó như một thói quen ăn sâu vào tâm khảm, một niềm mong mỏi được đặt chân đến miền đất kỳ diệu, nơi gửi gắm những ước nguyện bình dị và tốt lành nhất. Ai chưa đi thì lòng còn băn khoăn, ai đi rồi lại muốn đi nữa. Người trong nghề đục đẽo, tâm linh như chúng tôi nhìn vào quần thể này mới thấy hết cái hay, cái tài của cha ông ngày trước khi khéo léo kết hợp giữa cảnh sắc của đất trời và bàn tay lao động của con người.

Vị trí địa lý và thời gian diễn ra hội chùa Hương

Quần thể danh thắng này nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây cũ (bây giờ thuộc về Hà Nội). Bản gốc ghi đường bộ từ trung tâm Hà Nội về tới Đục Khê (Bến Đục) độ chừng 60 km. Ngày xưa, các cụ đi hội nhàn nhã hơn nhiều, thường chọn đường thủy Phủ Lý – Đục Khê. Cứ tầm cuối chiều tới thị xã Phủ Lý (Hà Nam), nằm thuyền dọc theo dòng sông Đáy, ngủ một giấc chưa tròn đêm là đã bảng lảng tới Bến Đục.

Hội chùa Hương mở cửa đón khách từ mồng 6 tháng giêng và kéo dài mãi đến tận rằm tháng ba âm lịch. Trong đó, thời gian chính hội đông vui, nhộn nhịp nhất rơi vào từ ngày 15 đến ngày 20 tháng hai âm lịch. Người ta bảo nhau rằng ngày 19 tháng hai là ngày sinh, còn ngày 18 tháng hai là ngày hóa của Bà Chúa Ba (tức là Phật Bà Quan Âm Bồ Tát), bởi thế nên mấy ngày này không khí trong vùng lúc nào cũng tấp nập khác thường.

Những tuyến đường hành hương và thưởng ngoạn cảnh trí Hương Sơn

Cái độc đáo của Hương Sơn là một tập hợp nhiều động, nhiều chùa trong một quần thể cấu trúc trải dài chừng 3 km, chiếm khoảng không gian rộng lớn bao gồm cả núi đồi, hang động, khe suối và rừng cây trên dãy núi đá vôi thuộc triền núi Hòa Bình. Bố cục ở đây chia làm 3 cụm hang động đi theo 3 tuyến đường khác nhau, và tất cả đều lấy Bến Đục làm điểm xuất phát đầu tiên để bước vào “bầu trời – cảnh Bụt”.

1. Tuyến Hương Tích (Tuyến hành hương chính)

Nói gì thì nói, đã đi chùa Hương thì trước hết phải đi tuyến chính này để thỏa lòng tín ngưỡng và thưởng ngoạn những tạo tác văn hóa do con người bồi đắp. Từ bến Yến, người ta ngồi đò xuôi dòng suối Yến một đoạn rồi lên thăm đền Trình dưới chân núi Ngũ Nhạc. Chữ “Trình” ở đây có cái nghĩa rất mộc mạc: khi vào thì Trình Phật, khi ra thì Chào Phật.

Xong xuôi lễ nghi ở đền Trình, đò lại tiếp tục đưa khách chiêm ngưỡng núi non trùng điệp hai bên bờ suối. Nào là núi Vẹo, núi Phòng Sư, chùa Đồng Lúa, núi Hai Mèo Đuổi Chuột, Thung Dâu, Vụng Mát; rồi nhìn sang bờ kia lại thấy núi Đụn, núi Soi, núi Quy, núi Phượng, chùa Thanh Sơn, núi Voi… Đi cho tới khi chạm mặt núi Mâm Xôi, Con Gà là thuyền cập bến Trò (Thiên Trù). Khách lên bờ đi qua Nhà Bia, vào chùa Thiên Trù (còn gọi là Bếp Trời hay chùa Ngoài). Sau khi thắp nén hương lễ Phật ở đây, hành trình leo núi thực sự bắt đầu. Khách sẽ đi qua chùa Tiên, chùa Giải Oan, đền Cửa Võng (đền Trấn Song) rồi cuối cùng đặt chân tới động Hương Tích, tức là chùa Trong – nơi kết thúc tuyến đường và mở đầu cho các cuộc hành lễ chính thức.

2. Tuyến Tuyết Sơn

Cũng xuất phát từ bến Yến, đò đưa khách đến thăm đền Trình (Phú Yên). Ngắm nhìn sông nước, khách lần lượt đi qua núi Thuyền Rồng, núi Con Phượng rồi cập bến Tuyết Sơn. Tại đây, khách vào thăm chùa Bảo Đài, tiếp tục leo núi đến Bạch Tuyết Môn, thăm Điện Cô và dừng chân nghỉ lại ở chùa Tuyết Sơn (hay còn gọi là động Ngọc Long).

3. Tuyến Long Vân

Vẫn bắt đầu từ bến Yến và qua đền Trình (Phú Yên), nhưng lần này đò sẽ rẽ sang một nhánh khác của suối Yến để dẫn vào chùa Long Vân, rồi tới động Long Vân. Đi tiếp một đoạn nữa sẽ gặp chùa Cây Khế. Đặc biệt trên tuyến này có hang Sũng Sàm – một di chỉ khảo cổ học rất quý. Dù chưa được khai quật chính thức nhưng rải rác quanh đây, các nhà khoa học đã tìm thấy nhiều di vật của người cổ xưa.

Nghi lễ mở cửa rừng tại đền Trình Ngũ Nhạc

Thực ra, ngay từ sáng mồng 6 tháng giêng, cửa chùa đã mở để hưởng ứng “Lễ mở cửa rừng” (hay lễ khai sơn) của người dân địa phương. Lễ này được tiến hành nghiêm túc và vui tươi tại đền Trình (Ngũ Nhạc). Ngôi đền này tuy không lớn nhưng được làm theo kiểu chữ Tam (ba lớp cấu trúc), mang dáng dấp “thượng sơn lâu đài, hạ sơn lưu thủy”, mặt trước hướng ra không gian thoáng đãng còn lưng tựa chắc chắn vào vách núi.

Vùng đất này xưa kia vốn hoang vu, cọp thường hay về phá phách, nên dân làng lập đền thờ Sơn Thần – tức là ông Hổ, một dạng tín ngưỡng vật thiêng nguyên thủy. Qua thời gian, hình tượng Sơn Thần dần chuyển hóa thành Nhân Thần và được lịch sử hóa. Theo thần phả lưu lại, nơi đây thờ Hùng Lang – một vị tướng thời Thánh Gióng đã có công chém chết viên tướng giặc Ân lợi hại là Thạch Linh.

Lễ mở cửa rừng là một nghi lễ tiền nông nghiệp cổ xưa của cư dân vùng sơn cước nhằm tạ ơn Chúa rừng, thần Núi, đồng thời cầu mong một mùa màng tươi tốt, một năm làm ăn may mắn, bình an. Sau khi tế lễ xong xuôi vào mồng 6, thì từ mồng 7 dân làng mới được phép vào rừng săn bắn, khai thác lâm thổ sản. Vì đền Trình nằm ngay đầu tuyến Hương Tích nên cái lễ mở cửa rừng này cũng tự nhiên trở thành tiếng pháo hiệu mở cửa chùa, mở hội leo núi cho du khách thập phương.

Tuyệt tác đá nhân bản bên trong “Nam thiên đệ nhất động”

Cái hồn và giá trị cốt lõi của toàn bộ khu chùa Hương chính là nằm ở động Hương Tích. Vào năm Canh Dần (1770), Chúa Trịnh Sâm khi đi tuần thú qua đây đã cảm động trước vẻ đẹp của tạo hóa mà hạ bút ban tặng năm chữ vàng “Nam thiên đệ nhất động” (nghĩa là động đẹp nhất trời Nam), hiện năm chữ này vẫn còn được khắc rõ trên trán động.

Cửa động nhìn từ xa trông như một cái “miệng rồng” khổng lồ, hai bên có hai cây chò cổ thụ trăm năm tuổi đứng thẳng tắp như hai người lính canh nghiêm chỉnh chào khách. Bước qua miệng rồng là những bậc đá dẫn sâu xuống lòng động. Ở trong cái không gian mờ ảo của ánh đèn, ánh nến, những khối nhũ đá lấp lánh hiện lên với đủ hình đủ vẻ. Người xưa bằng mắt nhìn mộc mạc và ước vọng bình dị đã đặt tên cho từng khối nhũ đá theo dáng hình tự nhiên của chúng: Đụn Gạo, Cối Giã, Sữa Mẹ, Cây Bạc, Cây Vàng, Núi Cô, Núi Cậu, Né Kén, Chuồng Lợn…

Người ta đến đây không chỉ để ngắm mà còn để cầu mong. Người muốn cầu con cái thì đến xoa đầu núi Cô, núi Cậu; người cầu của cải thì khấn vái ở Cây Bạc, Cây Vàng; người xin sức khỏe thì tìm đến “Bầu Sữa Mẹ”; ai nuôi tằm cầu nương bên “Né Kén”; còn ai nuôi heo mong hay ăn mau lớn thì ghé bên “Chuồng Lợn”. Cửa Phật ở đây rộng lượng, thu nhận cả những mong muốn đời thường nhất của người dân lao động và hướng họ sống thiện lương.

Hệ thống tượng thờ và các cổ vật mang giá trị lịch sử

Hương Sơn vốn là đất thờ Phật, các tu sĩ trông nom ở đây là những bậc Hòa thượng hoặc Thượng tọa. Thế nhưng, cái hay của ngôi chùa Việt là tính dung hợp. Nơi đây không chỉ có Đạo Phật mà còn tiếp nhận cả những tín ngưỡng cổ bản địa như sùng bái tự nhiên (thờ đá, tín ngưỡng phồn thực), tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, các vị thần văn hóa lịch sử, thần bản mệnh của làng, và cả đạo Tứ Phủ lẫn Đạo giáo phảng phất con đường thoát tục. Tất cả quây quần bên nhau hài hòa như một gia đình sùng tín.

Đi lễ Phật ở Hương Sơn, người ta sẽ được chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc và di sản quý báu của dân tộc:

  • Pho tượng đá Đức Phật Bà Quan Thế Âm: Nằm trong động Hương Tích, một tác phẩm tuyệt mỹ cả về nội dung tâm linh lẫn nghệ thuật điêu khắc đá.
  • Hệ thống tượng Phật: Được bài trí trang nghiêm tại nhà Tam Bảo ở khu vực chùa Ngoài.
  • 5 pho tượng bằng đá trắng: Nằm bên trong động chùa Tiên. Vị trí cao nhất ở chính giữa là tượng Cửu Thiên Huyền Nữ. Phía trước thấp hơn một chút là tượng Phạm Thiên và Đế Thích. Lớp dưới cùng ngoài cùng là tượng Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Phổ Hiền.
  • Quả chuông đồng cổ: Mang tên “Bảo Đài Hương Tích Sơn hồng chung”, một cổ vật có niên đại từ rất sớm, được đúc vào năm 1655.
  • Bia đá cổ: Tấm bia cổ nhất tại đây là “Thiên Trù tự bi ký” được dựng từ năm 1686, ghi lại rõ ràng những dấu mốc lịch sử, con người và hoạt động văn hóa qua các thời kỳ.

Cảnh hội thanh nhàn và những món quà kỷ niệm của vùng đất Phật

Không gian ngày hội trải dài suốt mùa xuân nên không khí lúc nào cũng có người đến, người về, dập dìu nườm nượp “bến Yến thuyền vào, bến Trò thuyền ra”. Dọc con đường dốc dài khoảng 2 km từ chùa Ngoài vào chùa Trong, người nối người từng đoàn lên xuống. Hai bên đường miên man những hàng hương, vàng mã, tạp hóa, hàng nước, trầu cau, quán cơm và cả những chiếc gậy “lụi” mộc mạc phục vụ người leo núi.

Nói về đồ làm quà, người đi hội chùa Hương chẳng mấy ai quên cầm về một vài kỷ vật đặc trưng của vùng này. Đơn giản thì là cây gậy lụi để đỡ bước chân, chiếc khánh làm bằng vỏ trai buộc sợi chỉ đỏ lấy may, hay túi mơ chín mang về làm quà nấu nước giải khát mùa hè thì tuyệt hảo. Và tất nhiên, không thể thiếu mớ rau sắng mang phong vị đặc biệt riêng có của vùng rừng núi Hương Sơn.

Cái sảng khoái của người trẩy hội không chỉ dừng ở chốn Phật đài, mà nó nằm ở sự tiếp xúc, hòa nhập huyền diệu giữa con người với thiên nhiên cao rộng. Đi chùa Hương là để tìm lại sự cân bằng trong tâm thức và thể lực sau những ngày lao động vất vả: vừa có ngồi thuyền thư thái lại có leo núi rèn chí khí; vừa có cái “xuất thế” thanh tịnh nơi thờ cúng lại vừa có cái “nhập thế” lo chuyện đời thường cầu con cầu của. Đó chính là triết lý sống dân dã, chân thực và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà tiền nhân đã gửi gắm và trao truyền lại cho con cháu đời sau.