Hội Chơi Núi Mùa Xuân – Gầu Tào Và Sán Sải Của Người Hmông

LỄ HỘI Chơi Núi Mùa Xuân – GẦU TÀO VÀ SÁN SẢI

Đối tượng suy tôn: Cầu phúc, cầu yên, tạ ơn trời (Thần Nông).
Địa điểm: Bãi đất bằng (Hà Giang, Lào Cai).
Thời gian: Mùa xuân hằng năm
(thường bắt đầu sau ngày mồng 3 Tết).
Đặc điểm: Nơi thưa thớt, nơi giản lược, không đồng đều giữa các vùng.

Đồng bào người Hmông thường đón Tết cổ truyền theo hệ thống âm lịch với tinh thần chuẩn bị vô cùng chu đáo, kỹ lưỡng. Để ngày vui trọn vẹn, lễ vật bắt buộc phải có là những con lợn to và gà béo tốt. Lợn dành cho dịp Tết cũng giống như lợn dùng trong lễ cưới, thường được gia chủ đầu tư chăm sóc cả năm trời, có khi kéo dài tới vài năm.

Bên cạnh đó, nguồn rượu cùng các loại lương thực dự trữ cũng phải bảo đảm luôn đầy đủ. Thuở xưa, do đặc thù canh tác nông nghiệp mỗi năm chỉ sản xuất một vụ độc nhất, nhân dân thường kéo dài thời gian ăn Tết cả tháng trời, trải từ giai đoạn giữa tháng Chạp cho đến giữa tháng Giêng.

Lệ làng quy định, nhà này tiến hành mổ lợn sẽ sửa mâm cơm mời toàn bộ xóm giềng tới chung vui, sau đó các gia đình khác cũng tuần tự thực hiện tương tự. Cứ thế, việc mổ lợn và tổ chức các bữa tiệc liên hoan được diễn ra luân phiên cho đến khi giáp vòng một lượt khắp bản.

Lối thiết đãi nồng hậu và đầy phóng khoáng này có lẽ chính là dấu ấn tàn dư từ hình thức sinh hoạt cộng đồng thuở xa xưa. Điều này được phản ánh một cách mộc mạc và rõ nét thông qua câu thành ngữ quen thuộc của tộc người:

“Có nước, tất cả cùng đổ,
Có tiền, tất cả cùng tiêu.”

Mỗi khi tia nắng mùa xuân ấm áp gõ cửa bản làng, các chàng trai trẻ lại náo nức rủ nhau tìm ra những bãi đất bằng phẳng để cùng cất cao tiếng hát, múa khèn nghệ thuật. Những người chọn ở lại nhà thì tìm kiếm niềm vui bên chén rượu nồng đón mừng năm mới.

Đây cũng là thời điểm hội Gầu tào (hoặc Sán sải) – một loại hình hội mùa đặc sắc có sức hút lớn đối với mọi lứa tuổi – chính thức khai màn. Mỗi thành viên trong cộng đồng đều cảm thấy bản thân là một phần không thể tách rời của ngày hội; nếu chẳng may không thể tham gia, lòng dạ cứ bồn chồn, bứt rứt không yên. Xét về mặt ngôn ngữ, danh xưng Gầu tào mang ý nghĩa mộc mạc là đi chơi ngoài trời, còn Sán sải biểu thị cho hành động đi chơi núi.

Không Khí Trẩy Hội Bản Làng Và Nghi Thức Dựng Cây Nêu

Ngày nay, hoạt động tổ chức hội Gầu tào tại địa hạt Hà Giang cũng như hội Sán sải bên mảnh đất Lào Cai đã có phần thưa thớt đi nhiều. Ở những vùng đất còn duy trì, phần nội dung lễ hội cũng được tinh giản đi ít nhiều, không còn giữ được trọn vẹn quy mô bề thế như thuở xưa.

Dẫu vậy, ngày hội vẫn đứng vững như một sự kiện trọng đại, mang lại niềm vui lớn cho khắp các xóm bản. Có những vị khách đường xa sinh sống ở cách vài ngọn núi vẫn sẵn sàng lội bộ từ một đến hai ngày đường chỉ để kịp đến tham dự trẩy hội.

Các cô gái trẻ xúng xính trong những bộ váy áo mới tinh khôi – thứ trang phục ngày hội được thêu thùa tỉ mỉ suốt cả năm trời mới hoàn thiện. Họ thường mang theo chiếc dù nhỏ vừa để che nắng che mưa, vừa làm đạo cụ giao duyên; khi gặp được người bạn lòng hợp ý sẽ mở dù để cùng che chung, cùng trò chuyện tâm tình.

Trong khi đó, các chàng trai lại diện bộ tà pủ (loại áo ngắn có hàng khuy tết bằng vải ở giữa, thiết kế cổ đứng, không ve và có 4 túi; kết hợp cùng quần ống rộng may bằng vải đại bố dày dặn, bền chắc) nhuộm sắc chàm sẫm, tay ôm chiếc khèn thân thuộc di chuyển khắp nơi để biểu diễn thi thố tài năng.

Tâm điểm của không gian vui chơi là một bãi đất bằng phẳng, nơi người ta trang trọng dựng ba cây tre cao lớn, giữ nguyên phần ngọn lá để làm cây nêu linh thiêng. Ngay trên đỉnh cây nêu, ban tổ chức treo một chai rượu nhỏ cùng một miếng vải đỏ làm dấu hiệu thành kính mời chào ma nhà (tức tổ tiên) về ngự trị.

Sau khi công đoạn dựng nêu hoàn tất, các bậc chủ lễ tiến hành nghi thức cúng bái, thắp hương và đốt tiền giấy bạc. Phần thân của cột nêu cũng được quấn các loại giấy màu sắc rực rỡ, bắt mắt.

Lễ hội thường không ấn định niên hạn cụ thể nhưng thường được kích hoạt sau ngày mồng 3 Tết. Luật tục quy định khi đã quyết định mở hội thì phải thực hiện liên tục trong vòng ba năm liền theo một tiến trình nghiêm ngặt: năm đầu tiên tổ chức trong 3 ngày, năm thứ hai tăng lên 5 ngày và năm thứ ba kéo dài đủ 7 ngày.

Cứ mỗi năm, người dân lại tiến hành chặt hạ và trồng một cây nêu mới. Sau khi hội kết thúc, người đứng ra chủ trì sẽ đem cây nêu về làm giát giường nằm; theo quan niệm dân gian địa phương, việc này sẽ giúp gia chủ nhanh chóng đường con cái. Đây cũng là một dạng thức cầu tự linh thiêng của những cặp vợ chồng hiếm muộn.

Nói về ngày hội chơi núi mùa xuân, các làn điệu dân ca Hmông vẫn lưu truyền câu hát đầy lưu luyến:

“Đôi ta ra về, cây nêu ở lại. Chúc người già, người trẻ dựng cây nêu mạnh chân khỏe tay mãi mãi.”

Những Cuộc Thi Tài Giao Duyên Và Nhịp Sống Đêm Hội

Ngày hội tạo nên sức hút mạnh mẽ đối với thanh niên nam nữ cùng trẻ em nhờ hệ thống trò chơi dân gian vô cùng phong phú. Trò chơi thi ném quả papáo sở hữu nét tương đồng với tục ném còn của người Việt và người Tày. Những ai không tham gia ném papáo có thể lựa chọn chơi trò đánh phết (sử dụng loại cầu được kết bằng lông gà).

Bên cạnh các trò vận động, hát ống xuất hiện như một hình thức giao duyên tinh tế, kín đáo giữa các cặp đôi. Người tham gia hát ống bắt buộc phải am tường nhiều làn điệu cổ, đồng thời sở hữu tài năng ứng tác nhanh nhạy mới có hy vọng chinh phục được tâm hồn của đối phương.

Thông qua chuỗi hoạt động thi ném papáo, đánh phết hay hát ống, trai gái trong bản có cơ hội tìm hiểu và xích lại gần nhau hơn. Động tác giương dù khéo léo của cô gái là ngầm ý chấp thuận lời mời, cùng chàng trai bước đến những khoảng không gian khuất vắng để tự do trò chuyện. Ngược lại, nếu cô gái chủ động cụp chiếc dù lại, chàng trai hiểu ý sẽ lập tức quay lưng để tìm kiếm cơ hội ở một đám khác.

Để bày tỏ tình cảm luyến ái, nam nữ thanh niên Hmông thường mượn tiếng kèn lá thay cho lời nói bộc bạch. Chỉ cần sử dụng một chiếc lá rừng nhỏ nhắn, có độ cứng, dai và một mặt bóng, đem gấp đôi lại là đã có thể thổi lên những giai điệu làm xao xuyến, thổn thức trái tim người nghe.

Nhạc điệu phát ra từ chiếc kèn lá thực chất là lời nói đã được ngữ điệu hóa một cách tài tình. Nương theo tiếng kèn gọi bạn, họ tìm thấy nhau giữa núi rừng đại ngàn. Các cặp đôi ngồi sóng đôi bên nhau, tiếp tục thổ lộ tâm tư bằng tiếng đàn môi.

Đó cũng là một thứ ngôn ngữ quen thuộc được diễn đạt bằng âm thanh uyển chuyển, lúc thầm thì to nhỏ, lúc dịu dàng tha thiết. Phụ nữ Hmông đặc biệt yêu thích sử dụng loại nhạc cụ này. Trong hành trình tìm kiếm tình yêu, các chàng trai thường tìm đến tận ngôi nhà nơi cô gái đang ngủ, dùng tiếng đàn môi réo rắt để thổ lộ nỗi lòng và đánh thức người yêu dậy.

Sự Náo Nhiệt Tại Bãi Hội Và Ý Nghĩa Nhân Văn Cốt Lõi

Tại khu vực bãi chính của ngày hội, không gian được chia thành nhiều góc vui chơi náo nhiệt: chỗ này đám trẻ trai tụ tập đánh quay, góc kia các cô bé cùng nhau chơi cờ ô. Ngay bên cạnh, những chú chim họa mi được nhốt trong lồng đua nhau hót líu lo, thỉnh thoảng người ta lại tổ chức cho từng đôi chim chọi nhau xem tài.

Những thanh niên khỏe khoắn, hiếu động thì tập trung tham gia các trận đấu võ dân tộc như vật truyền thống, đánh lưng hay đánh mông. Các bậc cao niên trong bản kể lại rằng, thuở xưa hội xuân còn tổ chức cả cuộc thi bắn nỏ thu hút rất đông xạ thủ tham gia, bởi người Hmông vốn có truyền thống giỏi nghề săn bắn. Những màn so tài thể lực và sự khéo léo này luôn là tâm điểm cuốn hút lượng người xem đông đảo bậc nhất suốt mùa lễ hội.

Gầu tào và Sán sải từ ngàn xưa đã là những ngày hội xuân có quy mô lớn nhất của đồng bào người Hmông. Đoạn ca dao chúc tụng ngày hội có chép:

“Người già, người trẻ dựng nêu sinh được chín con trai. Con trai lớn lên, ra cửa trời giữ được ruộng nương của cha mẹ.”

Theo quan niệm truyền thống, người Hmông luôn mong muốn sinh được nhiều con, đặc biệt là con trai, bởi họ là lực lượng lao động cốt lõi cần thiết cho các công việc nặng nhọc nơi ruộng rẫy cũng như việc khai thác lâm sản.

Trên thực tế lịch sử, dân tộc Hmông đã tiếp cận và biết canh tác ruộng nước từ giai đoạn rất sớm. Tác giả Mã Thiếu Kiều trong cuốn sách Thanh đại Miêu dân khởi nghĩa từng đưa ra nhận định: Tổ tiên của người Hmông và người Dao trước kia đã biết sử dụng cây lương thực sớm nhất tại Trung Quốc. Cho đến tận ngày nay, người Hmông vẫn thường xuyên kể lại câu chuyện về ông Thần Nông của mình trong hệ thống thần thoại cổ xưa.

Mục đích mở hội xuân của người Hmông ban đầu xuất phát từ nhu cầu cầu phúc, cầu bình an và tạ ơn trời đất của một số gia đình cá nhân, do đó lễ hội mang đậm màu sắc tín ngưỡng dân gian bản địa. Tuy nhiên, theo tiến trình phát triển và giao thoa lịch sử, ngày hội dần được bổ sung thêm nhiều nét văn hóa mới nhằm đáp ứng các yêu cầu thực tiễn của đời sống.

Đó là nhu cầu luyến ái, kết đôi của nam nữ (dịp để thanh niên đua tài, khoe sắc, kén chọn bạn đời trong điều kiện sinh sống biệt lập giữa núi rừng), kết hợp cùng nhu cầu vui chơi giải trí lành mạnh (thưởng thức ca hát, nhảy múa, âm nhạc, võ thuật và các trò chơi dân tộc) trong khoảng thời gian nhàn hạ sau mùa thu hoạch nông sản bận rộn.

Được khơi màn ngay sau những ngày đông giá rét căm căm, hội chơi núi mùa xuân của người Hmông thực sự là một không gian sinh hoạt văn hóa vô cùng sôi động, vui tươi. Bên cạnh việc lưu giữ đôi nét bóng dáng của ngày hội mừng công từ tộc người nông nghiệp thời cổ đại, ngày hội đã và đang chứng tỏ sức sống mãnh liệt, thu hút sự tham gia đông đảo của nhân dân, đặc biệt là thế hệ nam nữ thanh niên trẻ tuổi.