Đồ thờ trong kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của người Việt

Đồ thờ trong kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của người Việt người trong nghề chúng tôi, cả đời đục đẽo khói hương, cứ mỗi lần chạm tay vào những món đồ thờ lại thấy lòng mình lắng lại. Cái sự thờ phụng này không phải tự nhiên mà có. Từ thuở rất sớm, ngay khi loài người vừa thoát khỏi thời mông muội để bước sang giai đoạn văn minh, cha ông ta đã cảm thấy có một thế lực vô hình nào đó chi phối mạnh mẽ đến cuộc sống của mình. Người ta có nghiệm chứng thế nào cũng không tìm ra thế lực đó ở trên hay dưới mặt đất, thành ra cái xu hướng đẩy mọi niềm tin lên tầng trên cao chính là nét chung của muôn tộc người. Thế lực mà chúng ta đang bàn ở đây, hội tụ lại, chính là thần linh.

Mỗi tộc người, qua cách ứng xử với tự nhiên và xã hội, tự khắc sẽ nảy sinh một hoặc nhiều vị thần linh riêng biệt của họ. Nhưng nói chung, cái ước vọng muốn tiếp cận với thần linh để cầu viện những siêu lực vũ trụ cho cuộc sống trần gian thì dân tộc nào cũng thế. Người làm nghề như chúng tôi ngẫm lại mới thấy, cái hay là tới khi con người phát hiện ra lửa, ước vọng thông linh ấy mới phần nào được giải quyết.


1. Ngọn lửa và làn khói – khởi nguyên của đồ thờ trong kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của người việt

Nói thì dễ nhưng khi đặt nhát đục đầu tiên để dựng lại những hình tượng cổ, ta mới thấu cái tư duy của người xưa. Người đương thời nhận thấy cứ hễ có lửa là có khói, mà khói thì luôn bay thẳng lên trời cao. Cái đặc điểm tự nhiên này khiến con người dần dần muốn mượn khói làm phương tiện gửi gắm những lời cầu nguyện cùng các hình tượng gợi ý tới các vị thần cao cả.

Con người cũng sớm nhận biết được quy luật của ngày và đêm. Ban ngày ánh sáng tràn đầy, thần linh như vắng mặt; chỉ khi đêm xuống, các vị mới bắt đầu hội tụ. Thực ra thì ban ngày con người còn bận rộn hái lượm, lao động sản xuất, mãi đến khi trời tối tâm tư họ mới có thời gian để gửi gắm vào cõi vô cùng vô tận. Các nhà dân tộc học cho biết, chính những biểu hiện lễ hội của cộng đồng nguyên thủy là một trong những hình thức tiếp cận thần linh sớm nhất của nhân loại.

Khải thủy, đây là những sinh hoạt không theo định kỳ. Chỉ đến khi xã hội có tổ chức, sản xuất phát triển tới một mức độ nhất định, vòng quay thời gian khép kín theo chu trình thì lễ hội mới dần được đưa vào quy củ. Bóng dáng của thời kỳ xa xưa ấy hiện nay chúng ta vẫn phần nào gặp lại được trong sinh hoạt văn hóa của nhiều cộng đồng tộc người tại châu Phi, và đôi khi cũng còn thấy đôi nét ở các tộc người thiểu số trên đất Việt.

Cái hay của thớ gỗ này là khi ta khắc họa lại những điệu múa cổ, ta thấy được cả một bầu trời tư duy mênh mông ngang tầm trời đất của người xưa.

Trong hình thức sinh hoạt mang tính chất nguyên thủy này, người ta thường đốt một đống lửa lớn bằng củi rừng, rồi cùng nhau hội tụ, nhảy múa xung quanh. Đặc điểm của sinh hoạt này thể hiện yếu tố thờ mặt trời rất rõ nét thông qua chiều di chuyển ngược kim đồng hồ. Động tác múa diễn ra rất mạnh theo những nhịp ngắt rõ rệt. Người ta cố tình phơi diễn những động tác lắc mông, lắc bụng và ngực…

Những hình thức đó nảy sinh từ tư duy dân gian chứ không phải từ sự vất vả cực nhọc trong lao động mà ra. Người đương thời, đặc biệt là phụ nữ, muốn thông qua chính những động tác gắn với cơ thể của mình để “nhờ” lửa khói chuyển tải ước vọng lên thần linh. Hành động này như một sự gợi ý khéo léo: hỡi các thần linh cao viễn hãy theo cách của chúng tôi đây mà dùng pháp lực vô biên cho muôn loài phát sinh phát triển, cho mùa màng tốt tươi.


2. Sự hình thành ban thờ, đồ thờ trong kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của người việt qua các thời kỳ

Từ cách sử dụng ngọn lửa làm trung gian để tiếp cận với lực lượng siêu hình, dần dần con người hội tụ vào ngọn nến và nén hương. Sự chuyển biến này chủ yếu diễn ra ở người phương Đông do chịu ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa. Tôn giáo tín ngưỡng hình thành dần, nối tiếp truyền thống từ nguyên thủy mà bàn thờ rồi đồ thờ ngày một phát triển phong phú hơn.

Theo thời gian, bàn thờ dần dần được đồng nhất với thế giới bên trên – tức là bầu trời. Trong cấu trúc tâm linh ấy:

  • Hai cây nến: Tượng trưng cho đôi vầng nhật nguyệt (mặt trời và mặt trăng).
  • Các nén hương: Tượng trưng cho các vì tinh tú trên cao.

Sau này, mối giao lưu giữa tầng trên và tầng dưới còn được bổ sung bằng nhiều món đồ thờ khác, mang tư cách như những trục “vũ trụ” hay mang những ý nghĩa sâu kín nào đó thuộc về lẽ đạo.

Đặc điểm đồ thờ của người Kinh qua dòng lịch sử

Đồ thờ của người Việt mỗi thời mỗi khác nhau, trong đó trọng tâm cơ bản được đặt vào đồ thờ của người Kinh. Đáng tiếc là càng lùi xa về trước, số lượng và loại hình của chúng thường bị mất mát, hư hỏng do thời gian và biến thiên lịch sử. Vì thế, người trong nghề chúng tôi dẫu muốn cũng khó có thể hoàn toàn thông qua đồ thờ mà nhìn nhận một cách trọn vẹn về bản chất tín ngưỡng của mỗi thời kỳ.

Tuy nhiên, bằng vào những cuộc điền dã và kết quả sưu tầm tỉ mỉ của nhiều thế hệ, chúng ta tạm phân loại đồ thờ theo mấy cách thức dựa trên chiều dọc và chiều ngang của lịch sử. Có nghĩa là vừa phân loại theo loại hình, vừa theo diễn trình tồn tại của chúng cùng những mối liên quan khác. Tạm có thể coi đồ thờ là những vật được gán cho có một sức linh nhất định; thông qua chúng, con người biểu hiện lòng thành kính và ước mong của mình đến các đấng thiêng liêng.

Như vậy, đây là một phạm trù rất rộng bao gồm cả đồ thờ nhân cách, ban thờ cùng những hiện vật liên quan, rồi đến các loại linh thú, đồ bát bửu, lỗ bộ, chấp kích v.v… Để tiện cho việc theo dõi, chúng tôi lướt qua đồ thờ nhân cách để phân loại về các di tích khác nhau, từ đó làm nền tảng cho những đồ thờ phi nhân cách sau này.