Các thành phần chính của dân tộc chi phối tới bộ mặt di tích nhiều năm lặn lội qua các mái đình, ngôi đền cổ ở đồng bằng Bắc Bộ, người trong nghề chúng tôi nhận ra một điều: cái hồn của di tích không tự nhiên mà có. Nó được nhào nặn từ chính cội nguồn lịch sử, từ sự hòa huyết và dòng chảy thiên di của các tộc người. Muốn hiểu sâu cái hồn cốt của kiến trúc hay bàn thờ cổ, trước hết phải nhìn vào những thành phần dân tộc đã tạo dựng nên chúng.
Nguồn gốc hệ tộc Việt Mường và dòng chảy văn hóa ngã ba Hạc
Nếu lấy Bắc Bộ làm tâm điểm, gốc rễ của người Việt chúng ta là cả một câu chuyện dài. Nhiều nhà khoa học trong nước và thế giới sớm nhận thấy hệ tộc Việt Mường không nằm trong những chuẩn hệ tộc cơ bản. Họ là tộc người chủ thể, nhưng nói thật, để tìm được cứ liệu xác định rõ rệt họ được thành lập từ bao giờ thì hiện tại vẫn chưa có.
Cái hay của lịch sử là ở những giả thuyết. Có ý kiến cho rằng vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ nhất, do môi trường sống khác nhau mà dòng máu ấy dần tách riêng thành người Việt và người Mường. Ý kiến khác lại bảo sự tách biệt này mãi đến cuối thời Bắc thuộc mới xảy ra, và phải tới khoảng thế kỷ XV, XVI mới thực sự tách hẳn. Thú vị là, xu hướng hiện nay lại đang có sự hòa nhập trở lại.
Dựa trên những kết quả nghiên cứu, chúng tôi thấy rõ hệ Việt Mường là sự tập hợp của nhiều hệ cơ bản, giống như một bức tranh khảm từ nhiều mảnh ghép:
- Hệ bản địa gốc: Trước hết là hệ Môn – Kh’mer. Dấu vết của họ còn đọng lại rất rõ trong ngôn ngữ cơ bản và một số tập tục đời sống.
- Hệ từ phía Tây Bắc: Những cư dân ở Vân Nam và xung quanh đó thuộc hệ Tạng Miến. Họ men theo dòng sông Hồng, sông Đà mà tràn vào đất Bắc Bộ.
Văn hóa Việt về cơ bản là sự hội tụ của nhiều dòng chảy văn hóa từ các miền xung quanh, tạo nên một kết cấu mà nhiều người ngỡ như đọc được ở đó những nét phi Hoa, phi Ấn.
Sự dịch chuyển của các hệ tộc cổ và sự định hình văn minh sông Hồng
Nhìn lại dòng thời gian cách đây khoảng hơn 2000 năm tới 3000 năm về trước, ở phía tây đất Hoa Nam có hệ tộc Tày Thái (một hệ Việt cổ) và phía đông có hệ Đản. Nằm kẹp giữa hai hệ này là tộc Miêu cư ngụ ở vùng núi cao. Khi bùng nổ dân số tạo áp lực dồn ép, một bộ phận người Tày Thái phải vượt đến miền tây bắc Việt Nam hiện nay, số khác tràn qua Lào, Thái Lan. Người Tày Thái để lại cho chúng ta nhiều sản phẩm văn hóa từ thời cổ đại, mà nhiều dấu tích ở thành cổ Loa là một ví dụ minh chứng rõ ràng.
Trên bước đường thiên di ấy, một bộ phận dừng lại tại Việt Nam, nổi lên là người Tày, Thái trắng, Thái đen… Trong khi đó, một bộ phận người Đản (một hệ Việt cổ khác) lại chọn ra ngoài biển. Họ tràn vào các hải đảo và bờ biển phía nam, rồi ngược dòng sông Hồng thâm nhập vào phía Bắc tộc Việt. Nhóm cư dân này đã tạo lập nên tộc Chăm, Êđê, Gia rai… và cũng là thành phần chính của quốc gia Indonesia, quốc gia Mã Lai sau này, được xếp vào hệ Mã Lai đa đảo. Chính thành phần này là một bộ phận cơ bản của tộc Việt đương thời. Nhiều người hạ bạn thuộc hệ này, và trong gia phả nhà Mạc có ghi rõ rệt dòng dõi thuộc tộc Đản.
Sự trộn pha của bốn hệ tộc kể trên chủ yếu diễn ra ở vùng ngã ba Hạc hoặc trên đó một chút. Về sau, cùng với sự phát triển của nghề nông nghiệp, một bộ phận lớn theo đường sông Hồng chuyển về vùng xuôi. Được thiên nhiên ưu đãi, nền kinh tế của họ có điều kiện phát triển mạnh, góp phần tích cực cho việc định hình nền văn minh sông Hồng. Họ chính là thành phần cơ bản của người Kinh ngày nay.
Một bộ phận khác lại chọn hướng vượt qua sông Đà để khai phá vùng Tản Viên – Sơn Tây, rồi theo triền núi vượt qua Hòa Bình để vào đất Thanh Hóa, Nghệ An. Đó chính là con đường đi chính thuộc địa bàn của tộc Mường.
Đặc điểm xã hội châu thổ Bắc Bộ chi phối thần linh và di tích
Nói thì dễ, nhưng khi đặt nhát đục đầu tiên lên gỗ để dựng đền đài hay bài trí bàn thờ thờ phụng, người thợ cổ đều chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tổ chức xã hội đương thời. Ở châu thổ Bắc bộ, mối quan hệ giữa người dân, di tích và thần linh nảy sinh từ hai nét cơ bản:
1. Sự phân hóa xã hội rất thấp và vai trò của ruộng công
Nhìn sang Trung Hoa vào thời Thương và Chu cách đây trên 2000 năm, sự phân hóa xã hội đã trở nên sâu sắc, ruộng công không còn và làng xóm hầu như hiếm có thần linh chung của cộng đồng. Ở Việt Nam thì khác. Tuy sự phân hóa xã hội đã trở nên mạnh mẽ từ thế kỷ XVIII, nhưng mãi cho tới tận thế kỷ XX, hầu như làng xã nào cũng còn giữ được một phần ruộng công, nhất là ở vùng Bắc Trung Bộ.
Trong lịch sử, chính hình thức ruộng công chia cho các suất đinh đã như một sự đảm bảo cho tính dân chủ làng xã và trách nhiệm của người dân đối với cộng đồng. Trách nhiệm đó bao gồm cả việc chăm lo cho thần linh, giữ gìn các di tích và gánh vác các lĩnh vực sinh hoạt văn hóa chung.
2. Tâm lý thực dụng trong đời sống tâm linh
Sống trong không gian châu thổ Bắc Bộ với nền kinh tế nông nghiệp phát triển yếu, năng suất thấp, lại cộng thêm nạn bùng nổ dân số đã tạo nên sự bức bối trong nội bộ nông thôn. Từ cái khó ló cái khôn, người Việt đã nảy sinh tâm lý thực dụng, ảnh hưởng trực tiếp đến những mối ứng xử hàng ngày.
Họ không theo bất kể một tôn giáo nào ở lĩnh vực trừu tượng của các hệ triết học. Với người nông dân, cầu thần trước hết phải có lợi ích nhìn thấy rõ ràng cho bản thân. Thực tế đó dẫn tới việc họ không có xu hướng đẩy thần linh lên quá cao. Thần linh được coi như một thứ “công cụ” tinh thần tham gia vào ước vọng của con người.
Người Việt ở châu thổ Bắc Bộ không định tâm lâu dài vào bất kể một thần linh cụ thể nào. Chính vì thế, khi bước chân vào một ngôi làng Việt, người ta thấy rất nhiều loại hình di tích khác nhau, gần như thần linh nào cũng được người nông dân Việt tôn thờ. Song, như để cân bằng lại cho tâm hồn, họ luôn hướng đến ý thiện và hành thiện. Họ đặt lên bàn thờ thần linh những lễ vật và đồ thờ với một tâm tư thành kính nhất của người trần mắt thịt.
