Biến chuyển lối tạc tượng Phật giáo thế kỷ XVI – XVII người trong nghề đục chạm chúng tôi đều biết, bước sang đầu và giữa thế kỷ XVII, những pho tượng Quan Âm đã hoàn toàn biến đổi theo một phong cách mới. Nói thì dễ nhưng khi đặt nhát đục mới thấy, trên thực tế, nhiều ít trên từng pho vẫn mang những nét kế thừa gần gũi của tượng thời Mạc. Từ những bộ Tam Thế trên đại thể ít biến đổi cho đến các pho Bồ Tát, nhất là Quan Âm, vẫn gần gũi với đời, đặt gần với chúng sinh và không xa cách bao nhiêu với tượng thế kỷ XVI.
Hãy nhìn vào pho Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn ở chùa Phúc Nương (Yên Viên – Hà Nội), tượng vẫn giữ đầy đủ nhiều chi tiết của tượng chùa Đa Tốn thời Mạc, chỉ khác vài nét là không có các cánh tay nhỏ và gấu áo không buông lửng mà chảy dài ốp sát thân. Hay như pho Quan Âm ở chùa Bắc Lãm được làm trong thế đứng, chỉ có thiên quan đôi chút thay đổi trong hình thức ốp sát đầu, nếp áo nhiều hơn một chút. Còn lại tất cả hầu như chưa biến đổi nhiều, vẫn khuôn mặt trái soan chưa nở má dưới, với các nét đẹp hội họa, tha thướt, uyển chuyển gần gũi với bộ mặt có chất chân dung. Các nếp áo tuy nhiều hơn nhưng chưa đậm hẳn, lối tạo tác của người thợ hồi đầu thế kỷ XVII xem ra còn nhút nhát, chập chờn chứ chưa ổn định hẳn.
Phải tới giữa thế kỷ XVII, cùng sự phát triển của Phật giáo mới tạo được một hệ thống tượng khá đầy đủ. Trong đó, tiêu biểu và điển hình nhất là hệ thống tượng ở chùa Hoa Phát và nhất là chùa Bút Tháp.
Hệ Thống Tượng Giữa Thế Kỷ XVII Tại Chùa Hoa Phát
Tại chùa Hoa Phát (Sài Sơn, Quốc Oai – Hà Tây), có tới sáu pho tượng được làm vào giữa thế kỷ XVII bao gồm các tượng Di Đà, Bồ Tát Thế Chí, Quan Âm, Văn Thù, Phổ Hiền và một pho Quan Âm Nam Hải trong thế đứng. Đây chính là pho Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn đứng có thể coi như duy nhất hiện nay biết được.
Nhìn chung các tượng này trên đại thể có nhiều nét kế thừa từ tượng thời Mạc, song đi sâu vào chi tiết thì đã có nhiều thay đổi rõ rệt. Tỷ lệ tượng đứng so với đầu thường gấp năm lần, còn tượng ngồi thường chỉ bằng ba đầu mà thôi. Nét nổi khối ở thành mũ của tượng thời này ít nhô ra hơn so với thời Mạc, các hoa cỏ trang trí cũng trở về với sự tượng trưng trong tư thế nghiêm chỉnh, giảm đi sự cởi mở gần gũi trước kia.
Cái hay của người thợ lúc này là nếp áo đã biểu hiện sự chắc tay hơn với các nét hằn sâu rành mạch, tuy chưa quá nhiều. Các gấu áo đôi khi đã lật đi lật lại tạo nhiều lớp theo kiểu xếp chồng lên nhau, cân xứng một cách phức tạp. Có khi cánh tay áo chảy mạnh từ trên xuống như một lưỡi nhọn bong kênh, chiếm tới hai phần ba thân như ở pho Quan Âm đứng chùa Hoa Phát. Đây là cách thức cực kỳ khó gặp ở thời trước. Nhìn chung, đường nét bao phủ trên tượng chặt chẽ đến lạnh lùng, mang một vẻ đẹp áp đặt, như không muốn quan tâm tới thứ tình cảm liên tưởng tản mạn vốn có của tư duy nông nghiệp.
Cũng ở chùa Hoa Phát, hiện tượng thao diễn kỹ thuật còn được nâng lên cao hơn ở pho Quan Âm nhiều tay. Các dải áo hằn sâu chảy xuôi xuống thường bị phá vỡ nét tẻ lạnh bởi thắt lưng, gấu áo trong, gấu áo ngoài, rồi gấu váy – một tập hợp của nhiều đường lượn đầy suy nghĩ, đầy kinh nghiệm của người làm nghề. Người ta cũng tạo trên thân Quan Âm “dải lụa” dưới dạng bong kênh chảy dài qua cánh tay từ trên ngực xuống tận bệ sen. Chỉ một chút lượn cong sang hai bên đã tạo nên nét bay mềm mại, góp phần phủ đi sự cứng nhắc của các nếp áo chảy xuôi. Hiện tượng dải lụa chạm bong kênh này có thể coi như sớm nhất trong các tượng Việt, ít nhiều nó như chịu ảnh hưởng từ phương Bắc.
Sự Thay Đổi Về Diện Tướng Và Cơ Thể
Đi vào cơ thể da thịt của tượng, nét biến đổi được hằn rõ trên khuôn mặt. Người thợ xưa đã dung hội nhiều quý tướng theo quan niệm phương Đông vào bên cạnh các quy định mang tính chất Phật triết. Chỉ một chút đơn giản tạo cho mắt tượng có đuôi theo kiểu mắt phượng đã không làm giảm đi tính chất soi rọi nội tâm của đạo Phật mà lại tăng cho tượng vẻ sang quý. Má tướng đầy hơn mang vẻ quyền uy, môi thu lại và dày lên cùng với chiếc cằm nổi khối căng mọng kiêu kỳ, đẹp một cách no đủ, đầy đặn rành rọt. Đó là những biểu hiện đặc biệt của tài năng.
Một chi tiết khác của giai đoạn này rõ ràng đã chịu ảnh hưởng về quan niệm luyện khí của phương Đông, khiến cho phần bụng quanh huyệt đan điền được làm nở hơn. Mặt khác, cánh tay tượng trong nhiều pho lại có vẻ cứng hơn, dáng uyển chuyển không được quan tâm như tượng hồi đầu thế kỷ về trước, động tác rành mạch và phần nào cả cách kết ấn có mở rộng với nhiều ý nghĩa hơn.
Nếu như các cánh tay ở tượng chùa Đa Tốn thời Mạc mở rộng dần trong thế đưa ra phía trước, phần nào đã thu hẹp góc nhìn tới tượng chính, thì tới giữa thế kỷ XVII, các cánh tay đã tỏ ra chỉ là phần phụ trợ, có phần hơi đơn giản với độ mở rộng hơn nên làm nổi phần thân tượng. Đó là sự thay đổi của quan niệm tạo hình. Sự đề cao thân tượng còn được chú ý trong cách làm nhỏ đi phần rồng đội tòa sen. Phần này chỉ còn là một tầng “mỏng” với rồng mặt quỷ uốn lượn trong sóng nước, như một xác nhận về tính chất “nam hải” của vị Quan Âm.
Tinh Hoa Điêu Khắc Tại Chùa Bút Tháp
Phật điện của chùa Bút Tháp (xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành – Hà Bắc) đã tương đối đông đúc với các pho tượng mang tính chất điển hình của thế kỷ XVII như bộ Tam Thế, tượng Văn Thù, Phổ Hiền, Tuyết Sơn, Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn.
Bộ Tượng Tam Thế Chùa Bút Tháp
Cả ba pho đều ngồi trong thế kiết già, được tạc to hơn người thực, trong thế khá cân đối (từ chỏm đầu tới mặt ngồi cao 1,75m – cả đài sen và bệ là 2,70m). Bộ tượng được đặt ở vị trí cao và sâu nhất tại gian giữa của tòa thượng điện. Pho giữa trong thế ấn Tam Muội (Samâdhi) với hai tay chồng ngửa đặt trên lòng đùi, pho bên trái trong thế thuyết pháp, pho bên phải với hai tay duỗi tự nhiên đặt trên gối.
Nhìn chung bộ Tam Thế này tuy không có gì khác biệt hẳn Tam Thế thời Mạc về cái dáng chung hay áo cà sa hở ngực, song cái mới được đặt vào một vài chi tiết và các bộ phận phụ trợ. Bộ mặt tượng nhân hậu đăm chiêu nhưng đã tròn trịa hơn để phản ánh một quan niệm mới, thân hình tượng phần nào đầy đà với bụng nở dần. Đài sen tượng ngồi được làm khá kỹ, nhiều lớp, trong lòng đã xuất hiện kiểu đao mác. Bệ tượng dưới đài sen có bố cục như bệ của Quan Âm thời Mạc, song ở bốn góc phần trên thót của bệ đặt bốn tướng quỷ ngộ nghĩnh. Quỷ mang dáng người, mặt dữ tợn, râu dài, vú xệ, bụng nở tròn, mặc khố, ngồi xổm, hai chân dạng sang hai bên để lấy thế, người hơi nghiêng cùng hai tay và vai gánh đỡ tòa sen. Hình tượng bốn quỷ này thể hiện sự quy y Phật pháp của thế giới bên dưới nhiều ác tà.
Cái lạ là sau lưng cả ba tượng được chạm một vành “hào quang” mang hình thức như nửa cái thuyền dựng đứng – hình thức rất hiếm trong mỹ thuật cổ của người Việt. Phía trên đầu tượng, nơi vành hào quang, có chạm một con chim có hai đầu người đang trong thế bay xuống, giúp tránh cho vành hào quang nét vô duyên của tạo hình, mà gợi mở trí tò mò vào Phật pháp. Trong trường hợp này, chim tượng trưng cho Phật pháp vĩnh cửu nên vị trí đặt cao hơn đầu Phật. Chim có tên là Mạng Mạng (Jivajiva), Cọng Mạng, hay Sanh Sanh, thường ở vùng Hy Mã Lạp Sơn, vào với thế giới Phật ngày đêm dùng giọng nói thánh thót hòa dịu mà giảng về Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất bồ đề phận, Bát Chánh Đạo… Ở pho tượng bên, hình tượng chim được tạc là một đôi Ca-lăng-tần-già (Karavinka) – giống chim thiêng biết giảng đạo lý nhà Phật luôn có đôi chẳng lìa nhau.
Người trong nghề chúng tôi đánh giá bộ tượng Tam Thế ở chùa Bút Tháp là một trong không nhiều bộ tượng đẹp nhất của thời kỳ này. Tượng được chạm rất kỹ, người nghệ sĩ đã chú ý tới một vẻ đẹp phúc hậu, thanh thoát theo quan niệm đương thời. Bên cạnh đó, giá trị về những ý niệm cầu mong phồn thực vốn có trong tâm người Việt vẫn được thể hiện rõ nét qua các mẫu hình của biểu tượng về âm dương lưỡng hợp, về các lực lượng tự nhiên.
Kiệt Tác Tượng Quan Âm Nam Hải Chùa Bút Tháp
Tượng Bồ Tát Văn Thù cưỡi sư tử xanh và Phổ Hiền cưỡi voi trắng ở chùa Bút Tháp là hình tượng sớm nhất của hai Bồ Tát này trên Phật điện Việt Nam, nhưng đây chỉ là dấu ấn xác nhận sự ra đời chứ chưa phải điển hình nghệ thuật. Đỉnh cao của chùa Bút Tháp hay của cả thời kỳ này phải là pho Quan Âm Nam Hải (thường gọi là Thiên Thủ Thiên Nhãn) – một điển hình của nghệ thuật tạc tượng Việt Nam. Nếu như pho Quan Âm nhiều tay thời Mạc ở chùa Đa Tốn là pho khởi đầu nên không tránh khỏi những nhược điểm kỹ thuật, thì phải chi tới Bút Tháp mới có thể gọi là hoàn chỉnh.
Tượng ngồi bán kiết già theo lối hàng ma (lộ bàn chân phải), cao 2 mét (tính từ đỉnh vành tay xuống đất là 3,70m, đường kính vành tay 2,24m, đỉnh đầu tượng xuống đất là 3,36m, đài sen cao 0,35m, bệ cao 1,01m). Tượng mang nhiều nét kế thừa từ thời Mạc, nhưng có tới mười một bộ mặt to nhỏ chia làm bốn tầng. Tầng chính lớn nhất với một mặt chính diện, sau mang tai có hai mặt phụ giống nhau, đội chung một “Thiên quan” là vành mũ dựng đứng, trên thành mũ chạm tượng Phật tỏa hào quang cùng hoa mây cách điệu. Điểm đáng chú ý là phần trang trí này đã ít nổi khối hơn so với tượng thời trước. Phía trên thiên quan có tám mặt nhỏ chia làm ba lớp, lớp trên cùng có hai mặt cùng đội một đài sen làm nơi ngồi của tượng Phật A Di Đà nhỏ.
Phật thoại kể lại, sở dĩ Quan Âm có nhiều mặt cũng do từ tâm muốn cứu vớt chúng sinh khỏi kiếp đời ô trọc, nhưng chúng sinh vẫn cứ si mê lầm lạc trong dục vọng mà đọa vào vòng tội lỗi, luân hồi khổ não. Quan Âm ngày đêm suy nghĩ tìm phương cứu giúp đến nỗi đầu bị vỡ ra làm nhiều mảnh. Tâm đại “Từ, Bi, Hỷ, Xả” của Người được A Di Đà cảm thông nên đã dùng pháp lực vô biên biến mỗi mảnh vỡ thành một bộ mặt để nâng cao pháp lực. Tại chùa Bút Tháp, các mặt của tượng đều theo một phong cách: khuôn mặt nữ nhân hậu, bầu bĩnh sang quý, hiền dịu và đầy suy tư, để tóc trần cuốn búi lên đỉnh chứ không có thiên quan.
Tượng có bốn mươi hai tay lớn, trong đó đôi thứ nhất chắp trước ngực mang hình thức búp sen trong thế ấn “Liên hoa” biểu hiện cho Lý và Trí cùng một thể một cội nguồn. Đôi tay thứ hai đặt trên lòng đùi theo ấn Samâđhi (Thiền Định). Ba mươi tám tay khác đặt trong tư thế cao thấp khác nhau, chắp vào ở hai cạnh sườn phía sau, đều trong thế ấn quyết chứ chưa cầm nghi vật. Độ mở của các cánh tay vừa đủ để đề cao mà không che khuất pho tượng, cánh tay tròn lằn với các ngón thon búp măng nhỏ dài đầy mềm mại. Các thế tay như trong động tác múa sinh động nhờ cách chọn từng cặp không cần đối xứng, khiến tay không bị cứng hay đơn điệu. Các vạt áo ít bong kênh và bụng nở hơn, nếp áo được thể hiện hằn rõ một cách vững tay.
Cái hay của tượng Việt là khi so với pho tượng Quan Âm Thiên Thủ đời Minh ở Sơn Tây (Trung Hoa) dạng đứng, tượng của người Việt hiền hậu khiêm tốn như đi lên từ con người bình thường nhiều sự cảm thông cứu độ; còn tượng Trung Hoa như từ thần xuống, mang tính chất áp đặt, ban phúc. Ở Trung Hoa, người ta đưa vào đầu tượng nhiều chi tiết trang trí quá lớn và rườm rà, còn ở Bút Tháp bộ mặt này mang tính đời, hiện rõ từ tâm. Người thợ xưa giải quyết chi tiết rất thông minh khi cho con mắt vào trong lòng các bàn tay nhỏ có các ngón trong thế ấn Cam Lộ. Các cánh tay này dài ngắn theo độ mở dần của các vòng tay, lấy đầu làm trung tâm, khiến chúng như mang thêm chức năng kết hợp thành vành hào quang. Vành hào quang này lại được con chim hai đầu Ca-lăng-tần-già phá vỡ sự đơn điệu của đường biên tròn, mang chất sống gần gũi, ấm cúng chứ không kéo dài bảy lớp tay tạo sự nặng nề nhằm mục đích định sẵn như tượng Trung Hoa. Đài sen của tượng Bút Tháp cũng được làm rất hợp lý, trở nên thanh thoát nhẹ nhõm khi không bị ấn sát xuống bục nhờ có con rồng mặt quỷ uốn lượn trong sóng nước đội ở giữa.
Loại Hình Tượng Hậu Phật Và Tượng Tổ Chùa
Bên cạnh những tượng chính, ở chùa Bút Tháp còn nhiều tượng khác rất đáng quan tâm và mang tư cách khởi đầu như tượng Hậu Phật, tượng Tổ chùa. Tượng Hậu Phật ít nhất đã gặp từ thế kỷ XVI (như tượng Mạc Đăng Dung và tượng công chúa ở chùa Trà Phương, phù điêu đá tạc bà hậu ở chùa Bối Khê). Số lượng ban đầu chưa nhiều, nhưng đến thế kỷ XVII thì loại hình này nở rộ, bắt đầu từ những tượng hoàng hậu, công chúa ở chùa Bút Tháp, chùa Mật (Thanh Hóa), rồi lan ra chùa Thầy, chùa Lý Quốc Sư, chùa Nành, Bà Sao Bà Nến…
Tượng hoàng hậu, công chúa nổi lên với nét đáng quý: đầu tượng thường đội một mũ theo kiểu của Quan Âm với nhiều chi tiết nổi khối phức tạp, mặc áo trong hoàng cung với trang trí cầu kỳ. Như tượng công chúa Ngọc Duyên ở chùa Bút Tháp, diềm áo vòng qua gáy rồi thành hai dải lớn chảy ra phía trước, lòng diềm chạm nổi hoa dây khá thực, điểm xuyết đều từng con chim dưới dạng khác nhau, giúp tượng bớt tính chất nghiêm trang mà trở nên tươi mát. Ở tượng Hoàng hậu thường có yếm và anh lạc che gần kín ngực và một phần bụng. Kết hợp với bộ mặt nhiều chất chân dung kiêu kỳ có cá tính, các tượng đã nêu lên được vẻ đẹp phúc hậu vương giả. Đường nét phức tạp, chi tiết hơn ở tượng Phật như nhấn mạnh cái giàu sang của người hoàng tộc, mang tinh thần đời thường chi phối nên nhẹ nét siêu thực. Sự phối hợp màu đỏ, vàng kim loại, đen, hồng, trắng trên tượng khá nhuyễn, không bị lòe loẹt.
Ngược lại, các tượng hậu khác hầu như hoàn toàn mang những nét chung của đời thường, đậm chất chân dung với nhiều bộ mặt khác nhau. Tuy nhiên hầu như đều mang nét từ bi gần gũi với mặt Phật, đôi khi nhấn mạnh vài quý tướng như sống mũi thẳng, mặt trái soan phúc hậu, tượng nam có hàm nở để biểu hiện sự sang quý. Các tượng thường đội khăn Thanh Cát chùm đầu rồi phủ xuống vai, áo đơn giản gần như áo cà ca để hở ngực lộ rõ áo trong, hoặc áo chéo vạt trước. Những người có chức tước hoặc giàu có thì trên áo đôi khi điểm xuyết bông cúc mãn khai kép; những người có nghiệp tu và nhiều công quả đôi khi còn được tạc ngồi trên đài sen.
Lời Kết Của Người Làm Nghề
Những pho tượng trong chùa của thế kỷ XVII đã phát triển với nhiều loại hình hơn so với thế kỷ XVI và hình thành rõ rệt hai dạng khác nhau. Một là ở các chùa lớn có sự bảo trợ của tầng lớp trên thì hình thức thường nghiêm chỉnh, được chạm khá chi tiết. Hai là những tượng ít nhiều mang ý thức dân dã như Tam Thế, Quan Âm, tượng Hậu Phật, Tứ Pháp… thì kế thừa gần gũi từ tượng thời trước, nét khái quát cao với nghệ thuật khoáng đạt. Suy cho cùng, tượng ở Phật điện trong thế kỷ XVII đã biểu hiện bước phát triển mạnh mẽ về nghệ thuật điêu khắc Việt, chứng minh qua cả số lượng loại hình và số lượng tượng đã phát hiện được.
