Bí ẩn cách bài trí tượng phật giáo, đời người thợ đục truyền tay nhau cái đục, cái búa, nhưng cái gốc của nghề lại nằm ở chỗ hiểu được vị trí của từng pho tượng trên ban thờ. Nhìn vào những biến thiên lịch sử trong gần nghìn năm qua, lòng người làm nghề không khỏi xót xa khi thấy bao nhiêu di tích văn hóa nghệ thuật bị phá hủy. Càng lùi xa về trước, những gì còn sót lại đến nay chỉ là những may mắn rất hiếm hoi của trời đất.
1. Thuở Bình Minh Phật Giáo Thời Lý (Thế Kỷ XI – XII)
Để bắt đầu cuộc tiếp cận với tượng Phật giáo Việt hiện nay, người trong nghề chúng tôi chỉ có thể nương theo dấu vết từ thế kỷ XI, thời nhà Lý. Đi dọc khắp các dấu tích còn lại của chùa tháp thời kỳ này, qua khảo sát thực địa và đối chiếu kỹ lưỡng với bia ký, sách sử, có một đặc điểm rất dễ nhận ra: mỗi ngôi chùa thường chỉ gắn với một pho tượng Phật cụ thể mà thôi. Nếu có các vị Phật khác, họ thường xuất hiện dưới dạng phù điêu, ngoài ra là tượng Kim Cương và các linh thú đứng chầu.
Đọc lại bia ký xưa cũ, ta thấy cha ông ghi chép rất rõ ràng:
- Chùa Một Cột (Hà Nội): Nằm giữa bông sen nghìn cánh khổng lồ vọt lên từ hồ Linh Chiểu, trong điện đặt một pho tượng Phật mình vàng.
- Chùa Phật Tích (Hà Bắc): Nổi bật với cây tháp cao “ngàn trượng”, bên trong thờ pho tượng Phật mình vàng cao sáu thước.
- Chùa Quỳnh Lâm (Quảng Ninh): Có pho tượng Phật cao sáu trượng đặt gọn trong tòa điện cao bảy trượng, đầu tượng sát tận mái điện.
- Chùa Long Đọi (Nam Hà): Dựng cây tháp mười ba tầng, trong tháp có tượng Như Lai Đa Bảo ngồi trên tòa sen, bốn cửa có tám vị Hộ pháp đứng chống kiếm nghiêm trang.
- Chùa Hương Nghiêm (Thanh Hóa): Xây bệ đá giữa hồ, trên bệ đặt tượng Phật.
- Chùa Linh Xứng (Thanh Hóa): Nơi có tượng Phật Như Lai mình vàng ngồi cao trên tòa sen nổi giữa mặt nước mênh mông.
Cứ theo bia ký như “Sùng Thiện Diên Linh tự bi minh”, “Vạn Phúc đại thiền tự bi”, “Trùng tu tái tạo Tiên Du Sơn đệ nhất Quỳnh Lâm tự bi”, “Càn Ni Sơn Hương Sơn Tư bi minh”, “Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh”… thì mỗi chùa tháp thời bấy giờ cơ bản chỉ ghi nhận duy nhất một pho tượng Phật chính.
Dấu tích thực địa và hình dáng bệ đỡ thời Lý
Anh em thợ làm nghề khi đi thực địa hiện nay vẫn còn tìm được một số tượng Phật từ thời Lý. Có thể kể đến tượng chùa Phật Tích (dù phần đầu tượng và đài sen có thể đã được làm lại vào thế kỷ XVII – XVIII), tượng Phật chùa Chương Sơn (Nam Hà), hay tượng Phật chùa Huỳnh Cung (Hà Nội – tiếc là đã bị gãy mất đầu) và cả tượng Phật chùa Hoàng Kim (Hà Tây – cũng đã mất đầu). Những pho tượng này ít nhiều không còn nguyên vẹn, nhưng cái hay là mỗi tượng thường có một bệ riêng và chỉ độc nhất một bệ mà thôi.
Ở nhiều ngôi chùa, dẫu tượng đã tan biến theo thời gian nhưng bệ tượng vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, như tại chùa Chèo (Hà Bắc), chùa Thầy, chùa Hoàng Kim (đều ở Hà Tây), chùa Bà Tấm (Hà Nội), chùa Hương Lãng (Hải Hưng)… Thợ chúng tôi chia các bệ này làm nhiều loại, song nét cơ bản là phần đế chạm các loại sóng nước hoặc các tầng đế trơn. Phần giữa là sư tử – biểu tượng của sức mạnh tầng trên và trí tuệ, còn phần trên cùng là đài sen làm chỗ ngồi cho một pho tượng Phật (tất nhiên cũng có bệ không chạm sư tử, như bệ chùa Chèo).
Về hệ thống thờ tự, ngoài việc thờ đức Thích Ca Mâu Ni Phật, các vị cổ Phật (Như Lai Đa Bảo) thì trong thời Lý, hiếm hoi lắm mới xuất hiện hình bóng của Đức A Di Đà Phật hay đức Quan Thế Âm. Tuy vậy, chúng ta tuyệt đối chưa thấy sự hiện diện của bộ Di Đà Tam Tôn (A Di Đà, Quan Âm, Thế Chí) hay bộ Tam Thế Phật cùng nhiều loại tượng khác. Suy cho cùng, tượng Phật thời Lý mang tính tượng trưng cực kỳ cao, chứa đựng trong đó một mảnh tâm hồn Việt mộc mạc.
Phật điện phương Nam và các hình tượng nhân cách hóa
Những cuộc khảo sát gần đây tại các ngôi chùa miền Nam cho thấy một hiện tượng lạ: ngoài tượng Phật chính được làm lớn (như ở chùa Khơ Me Nam Bộ), người ta còn gặp nhiều tượng nhỏ có dáng dấp tương tự tượng lớn được xếp trên phật điện. Pho lớn nằm ở trung tâm, cạnh đó là các tượng gắn với hành trạng của đức Phật, còn các pho nhỏ là của các tín đồ gửi vào chùa để cầu phúc. Hiện tượng này gợi ý cho chúng tôi nghĩ về phật điện thời Lý: ngoài tượng chính ở trung tâm thì xung quanh còn có nhiều tượng khác được sắp đặt nhưng chưa theo một trật tự quy định nghiêm ngặt nào.
Ngoài tượng Phật, ngôi chùa thời Lý còn để lại cho hậu thế một số hình tượng nhân cách hóa khác. Cụ thể như bộ tượng Kim Cương (hộ pháp) ở chùa Phật Tích và chùa Long Đọi. Các cụ xưa thể hiện tượng này mang hình thức nửa phù điêu, nửa chạm tròn, đứng ốp hai bên cửa tháp. Đó chính là bóng dáng của tượng khuyến thiện và trừng ác sớm nhất của dân Việt. Rồi đến tượng con chim thuyết pháp (Kinnaras) cực đẹp được gắn vào kiến trúc với nửa trên là hình tượng người phụ nữ, nửa dưới là chim, mang ảnh hưởng gần gũi của nghệ thuật Ấn Độ thông qua các nước Đông Nam Á. Một hình tượng khác ít nhiều có tính nhân cách là cột biểu, mà điển hình là cột chùa Giạm. Nó như một biểu hiện của Linga, được đồng nhất với các vị thần tối thượng hoặc để nêu các thần chỉ là sự hóa thân của một bản thể vũ trụ tuyệt đối và vĩnh cửu. Cột chùa Giạm giống như một linga hoàng gia, biểu hiện nguồn hạnh phúc trường tồn.
2. Thời Trần Kháng Nghị Và Khoáng Đạt (Thế Kỷ XIII – XIV)
Bước sang giai đoạn này, đạo Nho và tầng lớp Nho sĩ bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Hoàn cảnh đó đã góp phần làm tàn phai một số Phật phái từng chiếm địa vị vàng son dưới thời Lý. Tuy nhiên, lịch sử luôn có những lối rẽ trớ trêu. Khi bọn Nho sĩ có địa vị trong xã hội, chính họ lại là kẻ chuyên chở một cách đắc lực dòng văn hóa ở quê hương Nho giáo vào đất Việt. Dẫu bị nhiều Nho sĩ bài bác, đạo Phật vẫn được coi như một trong các đối trọng vững chắc để bảo vệ nền văn hóa dân tộc. Tinh thần ấy là cơ sở cho một Phật phái Trúc Lâm tồn tại với nhiều tính độc lập, nhất là trong tư duy tạo hình.
Đặc điểm của phái Trúc Lâm là phụng sự cả cuộc đời xã hội và cuộc sống tâm linh, thấm nhuần câu “Hòa quang đồng trần” (Đem ánh sáng Phật pháp hòa vào thế tục để cứu độ chúng sinh). Một đặc điểm khác nổi lên từ những bậc trí giả đương thời là hiện tượng quan tâm sâu sắc tới lẽ huyền vi của Phật pháp, đề cao “kiến tính”, tìm về bản thể chân như, khai mở Phật tính vốn có sẵn trong tâm chúng sinh. Đạo Phật thời Trần kế tục từ thời trước, khiến yếu tố Thiền và Mật phát triển mạnh, đồng thời dòng Tịnh Độ cũng chi phối tới nhiều mặt của kiếp tu. Vào thế kỷ XIII, Tuệ Trung Thượng Sĩ đã từng khẳng định điều này khi cho rằng A Di Đà là bản tâm của mỗi người, với pháp thân bao trùm mọi chốn. Ông để lại câu thơ mà người làm nghề chúng tôi mỗi lần ngẫm lại đều thấy kính cẩn:
“Tam nội Di Đà tử ma khu – Đông Tây Nam Bắc pháp thân chu
Trường không chỉ kiếm cô luân nguyệt – Sát hải trừng trừng dạ mạn thu”
(Dịch nghĩa: Di Đà vốn thực pháp thân ta – Nam Bắc Đông Tây khắp chói lòa – Trăng thu ngự giữa trời cao rộng – Đêm lạnh trùng dương rạng chiếu xa).
Tinh thần Phật giáo thời Trần phóng khoáng đã góp phần tạo cho không khí chính trị ít nặng nề, chính sách có phần bình dị, dân chủ hơn, vai trò của nhân dân ít nhiều được coi trọng. Đó là cái nền để nghệ thuật Phật giáo có bước đi riêng. Vào đời Kiến Trung thứ bảy (1231), Thượng Hoàng xuống chiếu rằng trong nước hễ chỗ nào có đình trạm đều phải đắp tượng Phật để thờ. Năm 1255, triều đình đúc 330 quả chuông. Năm 1262, dựng chùa Phổ Minh. Dù sách sử ít ghi lại việc xây dựng chùa chiền rầm rộ như thời Lý, song đặc điểm đó phản ánh một thực tế: không còn vấn đề để các nhà sư tham gia vào triều chính, không còn ngôi chùa kiêm hành cung nữa. Ngôi chùa được trả về chủ yếu với đạo Phật và người dân có quyền được quan tâm nhiều hơn tới các công trình Phật giáo của làng mình.
Kiến trúc khung gỗ và câu hỏi về những phật điện trống không
Nói về dấu vết, nếu như ở thời Lý chỉ có vài hòn chân tảng kê cột và một vài bệ Phật để xác định cho chùa làng, thì tới cuối thế kỷ XIV, dấu vết chùa làng nhiều hơn gấp bội. Nổi lên trong số đó là những nhang án bằng đá và đặc biệt là ngôi chùa với kiến trúc khung gỗ vẫn còn tồn tại đến nay như chùa Thái Lạc (Hải Hưng), chùa Bối Khê (Hà Tây). Đây là những kiến trúc nhỏ, dựng trên nền cao từ 0,7m tới hơn 1m, mặt bằng gần như vuông với cạnh xấp xỉ 10m, khung nhà bằng gỗ mít và làm khá thấp. Người trong nghề nhìn vào là hiểu ngay: với ngôi chùa nhỏ như vậy thì không thể bài trí quá nhiều tượng được.
Qua khảo sát, chúng tôi gặp ít nhất hai loại phật điện khác nhau dựa trên sự phân biệt ở các đồ thờ:
- Loại thứ nhất (Chủ yếu ở tả ngạn sông Đáy thuộc Hà Tây như chùa Dương Liễu, Vinh Quang, Bối Khê, Ngọc Đình…): Dấu vết còn lại của thời Trần là một nhang án đá lớn ghi rõ niên đại vào cuối thế kỷ XIV. Vị trí của nó gần như cố định ở khoảng không gian nằm giữa hai cột cái sau và hai cột quân liên quan. Như thế, ở phía sau không còn chỗ cho việc đặt tượng. Phải chăng tượng đã được đặt ngay trên nhang án? Song hiện nay chưa có một chứng cứ nào để khẳng định điều này. Khi đi khảo sát về chùa của người Mường, chúng tôi thấy hầu hết chùa của họ được làm bằng gỗ lợp lá, có khi bằng tre, với bố cục gần tương tự như chùa Việt thời Trần: chỉ là một tòa nhà nhỏ, cũng một nhang án bằng gỗ ở vị trí tương tự nhưng không có tượng, thay vào đó là thờ bằng tranh vẽ hoặc một chữ Phật lớn trên nền đỏ. Đó là một gợi ý gần gũi cho cách thờ ở một số chùa làng thời Trần.
- Loại thứ hai (Như chùa Thái Lạc – Hải Hưng): Nhiều dấu vết kiến trúc của thế kỷ XIV còn thể hiện rất rõ, nhưng chùa không có nhang án đá, và tới nay không còn dấu vết của bất kể loại nhang án hoặc tượng nào của thời đó. Có lẽ dưới thời Trần, ngôi chùa này là một biểu hiện của sự dung hội giữa tín ngưỡng thờ lực lượng tự nhiên với Phật giáo, và đương thời tại chùa đã có một tượng theo dạng Tứ Pháp (tượng Phật màu cánh gián đậm, biểu hiện cho màu của bầu trời chứa nguồn nước no đủ).
Tuy nhiên, tất cả chỉ là suy đoán, thực tế thì giới đi thợ chưa tìm được một pho tượng cụ thể nào của thời này. Người ta đặt ra bốn giả thuyết để giải thích:
Một là: Chùa chiền thời này dựa được vào gia tài tượng cốt của thời Lý để lại.
Hai là: Vua Trần có ra lệnh đem tượng Phật vào đình trạm để thờ, song các tượng này bằng chất liệu không bền vững như gỗ mộc, đất nện nên không thể tồn tại với thời gian xấp xỉ 700 năm.
Ba là: Đạo Phật với phái Trúc Lâm mang nặng ý thức dân tộc, là một lực lượng bảo vệ bản sắc văn hóa Việt, nên ngôi chùa và sản phẩm nghệ thuật của nó trở thành đối tượng bị quân Minh tàn phá triệt để.
Bốn là: Bản chất của Phật phái Trúc Lâm, nhất là với các cao tăng, đã đi sâu vào tìm cứu cánh ở bản thể chân tâm, tìm giải thoát trong “giác”, thấy niết bàn vô trụ xứ (niết bàn nằm trong giác ngộ không bị lệ thuộc vào bất kể chỗ nào). Họ thờ Phật theo lối “xuất thế gian” (tức tu tâm, không cần hình tướng), đề cao lẽ “vô vi” (không bị lệ thuộc bởi sanh, trụ, dị, diệt). Như thế, tịnh xá nhiều khi chỉ là nơi tạo điều kiện cho hành giả “tĩnh tâm kiến tính” để tìm tới lẽ chân như. Với những người tu bậc cao này, có tượng hay không chẳng quan trọng gì. Mặt khác, tư tưởng Thiền ít nhiều có sự qua lại với tư tưởng Lão Trang, dẫn đến sự cởi mở phóng khoáng, khiến đưa kiếp tu gần lại với đồng nội, với thiên nhiên, với lẽ thường hằng của tạo hóa. Do đó sự lệ thuộc vào tượng Phật theo lối “thế gian trí pháp” chỉ ở mức độ giới hạn.
Nhìn chung, có thể tin rằng tuy có nhiều sự đổi thay trong tư tưởng và cách tu, nhưng phật điện thời Trần so với thời Lý chưa bị biến động nhiều, chủ yếu vẫn chỉ thờ một tượng Phật và chắc rằng đã có tượng A Di Đà Phật.
3. Thời Lê Sơ Ngăn Trở Và Bước Ngoặt Thời Mạc (Thế Kỷ XV – XVI)
Đến thời Lê Sơ (Thế kỷ XV), Nho giáo đạt tới đỉnh cao của nó. Mặc dù đạo Phật vốn được quần chúng và một bộ phận trong tầng lớp trên tin theo, nhưng chính quyền quân chủ Nho giáo vẫn đề ra những đạo luật hạn chế Phật giáo, hạn chế xây dựng chùa chiền và sự phát triển tăng lữ. Hoàn cảnh đó khiến ngôi chùa lớn khó có điều kiện ra đời, chùa làng cũng ít thấy dấu vết. Hiện nay, những gì liên quan cụ thể tới ngôi chùa thời Lê Sơ chỉ còn vài tấm bia như ở chùa Đỉnh Sơn (chùa Thầy – Hà Tây), chùa Kim Liên (Hà Nội), chùa Phúc Thắng (Hà Tây) và ở vài ngôi chùa khác nữa; chưa một kiến trúc Phật giáo nào ghi rõ niên đại thế kỷ XV.
Bằng vào việc xác định nghệ thuật, chúng tôi tìm được một số nhang án đá có bố cục rất gần gũi với hiện vật cùng loại của thời Trần, như nhang án đá của chùa Viên An, Viện Nội, Thanh Sam… ở hữu ngạn sông Đáy thuộc địa phận Ứng Hòa – Hà Tây (tiếc là không có chữ ghi niên đại). Trang trí trên các nhang án đá này có nhiều chi tiết cả về hình thức lẫn quan niệm đã thay đổi so với thời trước. Tượng Phật giáo của thời này cũng không còn. Ở chùa Thầy (Hà Tây), có một bệ gỗ được xác định làm vào năm 1498, tượng ngồi trên bệ đã mất, nhưng vị trí của nhang án đá vẫn chưa hề thay đổi. Vì thế, có thể tạm coi cách bài trí tượng Phật của thời Lê Sơ về căn bản tương tự thời Trần.
Bước nhảy dài thời Mạc và sự tản mạn của phật điện
Bước sang thế kỷ XVI, dưới thời Mạc, đây là một thời kỳ mà mặt nào đó ở lĩnh vực tư tưởng có phần được cởi mở, nền kinh tế nói chung khá phát triển. Đó là điều kiện tốt cho kiến trúc và tạo hình thời này có bước nhảy dài. Tuy về hình thức và kết cấu mặt bằng hay bộ khung, chùa thời Mạc không khác chùa thời Trần bao nhiêu, song bắt đầu số lượng tượng gắn với Phật giáo đã tăng lên rõ rệt.
Người làm nghề chúng tôi đã bắt gặp tượng Tam Thế Phật, Thích Ca Mâu Ni tọa thiền, Quan Âm Nam Hải, Quan Âm đứng trong thế cứu độ, hãn hữu còn gặp tượng Thích Ca sơ sinh hay tượng Ngọc Hoàng Thượng đế. Cái lạ là tất cả những tượng kể trên không tập trung trong một ngôi chùa mà tản mạn ở nhiều địa điểm:
- Bộ Tam Thế Phật: Thấy ở chùa Thầy (Hà Tây), Trà Phương (Hải Phòng), Ninh Hiệp, Lệ Mật (đều ở Hà Nội)…
- Tượng Quan Âm Nam Hải: Xuất hiện ở chùa Đa Tốn (Hà Nội), chùa Hội Hạ, chùa Thượng Trung (đều ở Vĩnh Phú), chùa Diên Phúc (Hà Tây, tiếc là bị mất năm 1993), chùa Động Ngọ (Hải Hưng)…
- Quan Âm đứng cứu độ: Tìm thấy ở chùa Phổ Minh (Nam Định).
- Tượng Thích Ca tọa thiền: Ở chùa La Khê (Hà Đông).
- Tượng Ngọc Hoàng: Ở chùa Ngô Sơn (Hà Tây).
- Thích Ca sơ sinh: Ở chùa Bần Yên Nhân và chùa Đông Dương (cùng ở Hải Hưng).
- Tượng hậu: Chạm khắc ở chùa Bối Khê (Hà Tây), chùa Trà Phương, chùa Nhân Trai và một số chùa tại quê hương nhà Mạc (Hải Phòng).
Tới thời kỳ này, chúng tôi vẫn chưa gặp tượng A Di Đà Phật và nhiều tượng khác. Sự tản mạn trong địa bàn trên chưa cho phép chúng ta định hình cho một phật điện cụ thể nào, chỉ có thể đưa ra vài giả định dựa vào đặc tính của từng loại tượng đương thời.
Nói thì dễ nhưng khi đặt nhát đục đầu tiên mới hiểu lòng người xưa. Đương thời, do sự phát triển của thương nghiệp với tầng lớp thương nhân và thương thuyền khá đông đảo, thần linh được quan tâm thờ ở các triền sông lớn hung dữ không phải là Phật Thích Ca hay A Di Đà mà là Quan Âm. Tượng Quan Âm thời này thường mang nét chân dung, có giá trị cao về nghệ thuật, mang vẻ đẹp cả về tạo hình và tâm linh. Có lẽ vì thế, những nơi có tượng Quan Âm thì tượng này thường giữ vị trí trung tâm của phật điện, nơi tiếp dưới bộ Tam Thế. Cũng có khi tiếp dưới bộ Tam Thế là tượng Thích Ca. Thực ra, cũng có thể trong chùa thờ Quan Âm hay Thích Ca mà không có bộ Tam Thế.
Riêng đối với các chùa thờ Tứ Pháp hóa Phật, thì trong mỗi chùa thực chất chỉ có một tượng. Như ở vùng Dâu (Thuận Thành – Hà Bắc), người ta còn tìm được ngai thờ, bệ tượng và ghế thờ thời Mạc. Ở chùa Thái Lạc (Hải Hưng) có kiến trúc thời Trần điểm xuyết gạch cổ thế kỷ XVI, thì trên phật điện gốc chỉ có một tượng Pháp Vân (hiện nay đã dồn về đây tượng của bốn chùa Vân, Vũ, Lôi, Điện, trong đó có pho Pháp Lôi được làm vào thời Mạc).
4. Thời Lê Trung Hưng Và Sự Định Hình Của Chùa “Trăm Gian” (Thế Kỷ XVII)
Khi nhà Mạc thất bại, Nho giáo càng rơi vào khủng hoảng. Triều đình không đủ sức tước bỏ những quyền lợi mà người dân có được trong thế kỷ XVI. Không có chính sách hạn chế Phật giáo, trái lại, chính tầng lớp trên cũng đi tìm sự an ổn sau cánh cửa chùa. Họ tham gia tích cực vào việc tu bổ, xây dựng lại chùa chiền. Chính quyền ở cả hai miền mở cửa cho các Phật phái Trung Hoa được tự do du nhập. Hoàn cảnh này đã cho phép các tượng Phật giáo ở chùa Việt ngày một phát triển và đa dạng hơn.
Vào đầu và giữa thế kỷ XVII, nhiều tượng Quan Âm vẫn giữ theo phong cách thời Mạc. Đồng thời tiếp sau đó là nhiều loại tượng mới xuất hiện như bộ Di Đà Tam Tôn ở chùa Thầy và ở chùa Bắc Lãm (Hà Tây), tượng “Di Đà phóng quang” ở chùa Phúc Khánh (Hà Tây), tượng Văn Thù, Phổ Hiền cùng Thích Ca, “Quan Âm Nam Hải đứng” đều thuộc chùa Hoa Phát ở Quốc Oai (Hà Tây). Nhìn chung, với sự phục hồi của đạo Phật cộng với mối giao lưu hữu thức Hoa – Việt về văn hóa nghệ thuật, tượng chư Phật và chư Bồ Tát ngày càng nhập sâu vào không gian Phật giáo của người Việt, kéo theo là một loạt ngôi chùa kiểu “Trăm gian” được hình thành.
Sự thiếu nhất quán và nỗ lực phục dựng sơ đồ phật điện
Tuy vậy, phật điện ở giai đoạn này vẫn chưa nhất quán, chùa nhiều chùa ít tượng khác nhau. Ngôi chùa ít tượng thì ở chính điện có Tam Thế Phật ngồi hàng trên cùng, tiếp tới là Di Đà Tam Tôn, rồi đến Quan Âm (như ở chùa Thầy). Ngôi nhiều tượng như chùa Bút Tháp, ngoài tượng Tam Thế, Di Đà Tam Tôn, Hoa Nghiêm Tam Thánh (Thích Ca, Văn Thù, Phổ Hiền), Thích Ca sơ sinh và Tứ Bồ Tát (Ái Bồ Tát, Ngữ Bồ Tát, Sách Bồ Tát, Quyền Bồ Tát) thì còn có tượng Quan Âm tọa sơn cùng Kim Đồng Ngọc Nữ đứng chầu. Gian bên trái đặt tượng Quan Âm Nam Hải dưới dạng Thiên Thủ Thiên Nhãn, gian bên phải đặt tượng Tuyết Sơn (hình tượng Thích Ca tu khổ hạnh ở núi Hy Mã Lạp Sơn). Ở tòa thượng điện này còn nhiều tượng làm thời sau.
Cùng một niên đại giữa thế kỷ XVII, ở nhà tổ và Phủ thờ còn có tượng hậu chùa, đó là hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc và công chúa Lê Thị Ngọc Duyên (hình thức tượng hậu tương tự đã thấy ở ba pho hoàng hậu tại chùa Mật – Thanh Hóa). Ở nhiều chùa khác, tượng hậu chùa (người có công lớn với việc xây dựng tu bổ chùa) thường không được làm gian thờ riêng mà chỉ mang tư cách thờ ghép ở nhà hậu, hành lang, có khi ở đầu hồi của tòa tiền đường.
Như vậy, vào thế kỷ XVII, tuy số lượng tượng đã khá nhiều nhưng cách sắp xếp ở nhiều chùa không thống nhất. Có lẽ vì không nắm được ý nghĩa và không phân loại được tượng mà người thời sau khi tu bổ lại đã xếp nhầm vị trí ban đầu. Tuy nhiên, bằng vào những tượng đã thấy, người làm nghề chúng tôi có thể tạm xếp sơ đồ cho một ngôi chùa đầy đủ nhất như sau:
| Vị trí / Hàng | Hệ thống tượng thờ |
|---|---|
| Hàng 1 (Cao nhất, trong cùng) | Bộ tượng Tam Thế |
| Hàng 2 | Bộ Di Đà Tam Tôn |
| Hàng 3 | Hoa Nghiêm Tam Thánh |
| Hàng 4 | Quan Âm với Kim Đồng Ngọc Nữ hoặc tượng Thích Ca sơ sinh với Tứ Bồ Tát trợ thủ |
| Bên hông trái Phật điện | Bàn thờ Quan Âm Nam Hải (nhiều tay) |
| Bên hông phải Phật điện | Bàn thờ Quan Âm Tọa Sơn hay Tống Tử… |
Cần lưu ý là thời này chưa tìm được tượng Di Lặc. Các tượng khác như Khuyến Thiện Trừng Ác, Đức Ông, Thánh Tăng… đều chưa thấy có trong thời này. Tại nhà hậu chưa phổ biến tượng tổ chùa, mà chủ yếu chỉ có tượng hậu chùa dưới nhiều dạng khác nhau. Hiện nay chúng tôi cũng chưa tìm được tượng các tổ truyền đăng ở thế kỷ XVII (ngoài một số phù điêu).
5. Thời Tây Sơn Chuyển Mình Và Đỉnh Cao Thời Nguyễn (Thế Kỷ XVIII – XIX)
Về cơ bản, cách bài trí của thế kỷ XVIII tương tự như của thế kỷ XVII, song đây đó có nhiều tượng được bổ sung vào phật điện, ví như tượng Di Lặc Phật hay tượng Kim Cương. Tượng Di Lặc thường được xếp ở hàng thứ tư và Kim Cương được đặt tại hai bên tiền đường.
Tới cuối thế kỷ XVIII, thời Tây Sơn, xã hội Việt có nhiều biến động, người đời phần nào đã quay lại với cửa chùa, thúc đẩy cho nghệ thuật Phật giáo phát triển. Theo dòng truyền thống, nhiều ngôi chùa (như chùa Thịnh Quang – Hà Nội) đã làm tượng theo cách thức của thế kỷ XVII và đầu XVIII. Nhưng đặc biệt có chùa Kim Liên và Tây Phương đã như theo một dòng chảy khác hẳn.
Sắp xếp phật điện tại tuyệt tác chùa Tây Phương
Trên ba dãy nhà dàn hàng ngang, rời nhau của chùa Tây Phương, người xưa đã bổ sung thêm nhiều tượng và bài trí cực kỳ quy chuẩn:
- Tòa sau (Hậu đường): Gian chính giữa ở sát tường đặt bộ Tam Thế Phật. Bộ tượng này có niên đại vào nửa đầu thế kỷ XVIII, có lẽ trước đây được đặt ở tòa giữa rồi trong một đợt tu bổ nào đó đã được chuyển vào vị trí hiện nay (tượng Tam Thế Phật ở chùa Kim Liên được đặt trên sàn lửng tòa giữa, sàn này mới bị lấy đi trong đợt tu sửa cuối những năm tám mươi của thế kỷ 20). Hàng thứ hai là tượng A Di Đà, cũng có niên đại vào đầu thế kỷ XVIII. Kèm hai bên (cùng gian giữa) là tượng Thập Điện Diêm Vương, sản phẩm của nghệ thuật cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Các gian khác của tòa nhà này đặt tượng mười sáu vị tổ truyền đăng.
- Tòa nhà giữa: Tính từ trong ra theo chiều thấp dần, mở đầu là bộ Di Đà Tam Tôn đứng với bên phải là tượng Đại Thế Chí Bồ Tát, bên trái là Quan Âm Bồ Tát phù trợ cho A Di Đà ở giữa. Các tượng này do hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương, chúng sinh nhiều đau khổ, nên được tạc đứng cả dậy để mang tư cách cứu độ gấp gáp. Hàng thứ hai là bộ tượng Thế Tôn với tượng Tuyết Sơn ở giữa, hai bên có tượng tổ thứ nhất Ca Diếp mặt già và tổ thứ hai A Nan mặt trẻ đứng hầu. Hàng thứ ba là Bộ Di Lặc Tam Tôn, trường hợp này Di Lặc mang tư cách một vị Phật kế cận đức Thích Ca, hai bên có Bồ Tát Pháp Hoa Lâm (nhiều râu) và Đại Diệu Tường đứng phù trợ.
- Các vị trí khác ở tòa giữa: Đứng bên trái bàn thờ chính có một tượng Kim Cương lớn, đó là tượng thái tử Kỳ Đà, một nhân vật nổi tiếng ủng hộ Phật pháp khi Phật còn tại thế. Cùng trên phật điện chính, người thời sau (thế kỷ XIX) đã bổ sung hàng tượng Thích Ca sơ sinh cùng hai vua Trời hỗ trợ là Phạm Thiên và Đế Thích. Hai bên tường hồi của tòa này còn tượng Giám Trai, Thổ Địa và Quan Âm Tống Tử.
- Tòa ngoài: Nơi gian giữa đặt tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn cùng Kim Đồng, Ngọc Nữ. Các gian bên đặt bát bộ Kim Cương to lớn, uy nghiêm.
Hệ thống phật điện thời Nguyễn (Thế Kỷ XIX)
Bước sang thời Nguyễn, số tượng trong chùa lại được tăng cường nhiều hơn nữa, phật điện trở nên đông đảo vô cùng. Theo cách đi lễ, vào bất kể ngôi chùa nào trên đất Bắc, người tín đồ phải đi qua Tam Quan, có nghĩa là đi vào đất Phật. Nơi ấy, con lân đứng ở đầu cột được coi như có quyền năng, đại diện cho sức mạnh tầng trên và trí tuệ, kiểm soát tâm hồn con người khi bước vào cửa thiền.
Sau đó, người lễ bước vào bàn thờ thứ nhất thường ở bên trái tòa Tiền Đường, nơi ngụ của Đức Ông để xin phép vào lễ Phật. Đức Ông được thể hiện mặt đỏ, mặc áo bào đội mũ cánh chuồn ngồi trên bệ, hai bên thường có tượng Già Lam và Chân Tể làm trợ thủ. Đức Ông chính là ngài Cấp Cô Độc, một trưởng giả giàu có tên chính là Tu Đạt Đa (Sudatta), người điển hình làm từ thiện, được nghe lời Phật thuyết pháp mà giác ngộ, rồi trở thành thần linh cai quản mọi cảnh chùa. Sau đó mới vào lễ Phật ở chính gian giữa.
Người Việt tu theo lối Thế gian trí pháp, nên sự sắp xếp phật điện thời Nguyễn đã đạt tới mức hoàn chỉnh và có quy định khá nghiêm ngặt từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài:
Hàng thứ nhất (Cao nhất, sát vách đốc): Bộ tượng Tam Thế Phật (Phá hiện tại, quá khứ, vị lai).
Hàng thứ hai: Tượng A Di Đà ngồi giữa, hai bên có Quan Âm và Thế Chí đứng hoặc ngồi (Bộ Di Đà Tam Tôn).
Hàng thứ ba: Tượng Thích Ca Mâu Ni ngồi giữa (thường tạc theo kiểu Niêm hoa vi tiếu hoặc tọa thiền), hai bên có tượng Ca Diếp và A Nan đứng hầu. Có chùa thay bằng bộ Hoa Nghiêm Tam Thánh (Thích Ca, Văn Thù, Phổ Hiền).
Hàng thứ tư: Tượng Tuyết Sơn ngồi khổ hạnh, hoặc có chùa xếp tượng Di Lặc vào vị trí này.
Hàng thứ năm: Tượng Thích Ca sơ sinh đặt trong tòa Cửu Long, hai bên có Phạm Thiên và Đế Thích đứng hỗ trợ.
Hai bên tường dọc của chính điện: Thường xếp tượng Thập Điện Diêm Vương chia đều mỗi bên năm vị, hoặc xếp bộ tượng Thập Bát La Hán.
Phía ngoài tòa Tiền Đường, hai bên tả hữu là nơi ngự của hai pho tượng Khuyến Thiện và Trừng Ác to lớn. Gian bên trái thờ Đức Ông, gian bên phải thờ Thánh Tăng (tức ngài A Nan). Đi dọc theo hai dãy hành lang thường có tượng bằng đất của các vị tổ truyền đăng, và nhà hậu là nơi đặt nhiều tượng tổ chùa (các vị sư tổ có công trụ trì, xây dựng chùa đã viên tịch).
Một đặc điểm phổ biến cho hầu hết các ngôi chùa đất Bắc là từ thế kỷ XIX, người ta thường hội vào cảnh chùa cả điện thờ Mẫu (Tiền Phật hậu Mẫu). Đó là một sự đảm bảo tâm linh khéo léo để các ngôi chùa không trở nên hoang lương khi Phật giáo tàn phai, do nhiều nhà tu hành thời kỳ sau đã không còn giữ được giới luật một cách tự giác.
