Bàn về chữ nghĩa trong ngũ thường và tục thờ Quan công

Trước đây mình đã nói về chữ Nhân trong ngũ thường, nay nhân 1 dịp đầu năm thăm đến đền quan đế thấy bức hoành phi đề chữ “Trung Nghĩa Quán Thiên” (忠義貫天 – Trung nghĩa thấu trời) nên viết thêm về chữ nghĩa trong ngũ thường. Bài viết hơi dài nhưng có thể có ích cho bạn nên cố gắng đọc hết mạch.

hoành phi đề chữ "Trung Nghĩa Quán Thiên" (忠義貫天
hoành phi đề chữ “Trung Nghĩa Quán Thiên” (忠義貫天

Chữ nghĩa (): từ triết tự hán học đến “bộ khung” đạo đức trong đời sống

Trong ngũ thường Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín, nếu chữ Nhân là tình thương bản năng của trái tim, thì chữ Nghĩa chính là “xương sống” định hình nên nguyên tắc đúng sai.

Bàn về Triết tự: Chữ Nghĩa () được cấu tạo từ hai phần:

Bên trên là chữ  (Dương – Con dê): Người Hoa ngày xưa lấy dê là vật tế thần. Vì vậy con dê là biểu tượng cho sự thanh khiết, sự hiến dâng và là vật tế lễ quý giá nhất dành cho trời đất. bộ còn xuất hiện trong nhiều chữ mang nghĩa tốt: (thiện) – tốt lành. (mỹ) – đẹp. (tường) – điềm lành.

Bên dưới là chữ (Ngã – Bản thân): Cái tôi cá nhân.

Triết tự Chữ Nghĩa (義) với chữ dương ở trên và chữ Ngã ở dưới
Triết tự Chữ Nghĩa (義) với chữ dương ở trên và chữ Ngã ở dưới

Ý nghĩa Chữ Nghĩa là Đạo lý (thứ cao cả, thiêng liêng) phải được đặt lên trên lợi ích cá nhân. Nghĩa chính là việc cá nhân tự nguyện đặt đạo lý và lợi ích chung lên trên cái tôi ích kỷ.  Theo cá nhân tôi nghĩ Nghĩa cũng chính là trong mọi trường hợp dám bảo vệ cái đúng.

Trong ngũ thường có thể hiểu và Nhân là trái tim còn Nghĩa chính là Thước kẻ

  • Nhân là lòng thương người (thấy người gặp nạn thì thương).
  • Nghĩa là hành động đúng cách (cứu người đúng bổn phận, đúng công lý).

Sự đối lập giữa Nghĩa () và Lợi ()

Trong cuộc sống con người không ai là không thích cái lợi. Cái lợi là lợi ích về vật chất, tính thần, những thứ tiện nghi cho cá nhân. Nhưng thường chữ nghĩa và chữ lợi lại thường đối nghịch nhau. Nhiều khi để có lợi thì thường lại không bảo toàn được chữ Nghĩa. Vậy nên Khổng Tử từng nói: “Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi” 君子喻於義,小人喻於利 . Sự khác biệt lớn nhất giữa người quân tử và kẻ tiểu nhân nằm ở chỗ: khi thấy cái Lợi, người quân tử trước tiên hỏi xem có hợp Nghĩa (đúng đạo lý) hay không mới làm. Nên người xưa rất phê phán việc thấy lợi quên nghĩa mà đề cao việc trọng nghĩa khinh tài. Tài chính là tiền tài cũng là nằm trong chữ lợi. Nhưng  Nho giáo không bảo chúng ta phải bài trừ cái Lợi (vì đó là lẽ phi thực tế), mà dạy cách ứng xử với cái Lợi:

  • Kiến lợi tư nghĩa (見利思義): Thấy cái lợi thì phải nghĩ đến cái nghĩa. Trước khi cầm “con dao” 刂để cắt “bông lúa” 禾, hãy tự hỏi: Bông lúa này có phải của mình không? Việc cắt nó có phạm vào đạo lý không?
  • Chính kỳ nghĩa bất mưu kỳ lợi: Làm việc vì nó đúng (Nghĩa), chứ không phải vì tính toán xem mình được bao nhiêu (Lợi). Nhưng kỳ thực, khi một người làm việc đúng nghĩa, cái Lợi bền vững thường tự tìm đến.
  • Bất nghĩa nhi phú thả quý: Giàu sang mà bất nghĩa thì chỉ như phù vân. Cái “Lợi” thu được từ sự bất nghĩa là cái lợi độc hại, sớm muộn cũng tan biến.

Vì sao người Hoa (và cả người Việt) lại thờ Quan Công rộng rãi, đặc biệt là giới kinh doanh?

Nếu ai đã xem phim xã hội đen của Hồng Kông đều thấy 1 điều là người Hoa họ thờ quan công rất nhiều, về họ xăm hình quan công lên người. Hoặc các thương nhân người Hoa cũng đặt bàn thờ Quan công. Vậy sao họ lại thờ Quan Vũ.

Ông Tên thật Quan Vũ, tự Vân Trường. Trong lịch sử ông nổi tiếng với Trung – Nghĩa – Tín – Dũng.

Câu chuyện Thân tại Tào doanh, tâm tại Hán: theo chính sử sau khi Lưu Bị bị đánh bại, Quan Vũ rơi vào tay Tào Tháo. Tào Tháo vì xem trọng ông nên đối xử rất hậu với ông, phong chức và trọng đãi. Nếu đặt trên bàn cân cục diện lúc này thế lực Tào Tháo rất mạnh việc có được cái lợi về vật chất và thế cục tương lai thì việc ngả theo Tào Tháo là điều dễ chọn. Nhưng khi biết Lưu Bị còn sống, Quan Vũ lập tức rời bỏ Tào Tháo để đi tìm Lưu Bị.

Khi bị bắt tại Lâm Thư, Tôn Quyền vốn rất ngưỡng mộ tài năng của Quan Vũ và đã cử người đến khuyên hàng. Nhưng Ông coi việc hàng Đông Ngô là sự phản bội lại lời thề kết nghĩa vườn đào với Lưu Bị.

Vì vậy ông chính là biểu tượng của chữ Nghĩa đối với người Hoa. Sau này qua các triều đại ông được phong là: Võ Thánh: Quan Thánh Đế Quân, Thần Tài.

Quan Vũ chính là biểu tượng của chữ Nghĩa đối với người Hoa.
Quan Vũ chính là biểu tượng của chữ Nghĩa đối với người Hoa.

Nghĩa được hiểu trong các hoàn cảnh:

  • Nghĩa khí (義氣) Trong làm ăn: “Dĩ Nghĩa Vi Lợi”. Với người Hoa họ rất trọng chữ Nghĩa đó là:  Ân nghĩa & Báo đáp. Tín nghĩa” (信義 – Giữ lời hứa) Trong cộng đồng người Hoa (đặc biệt là các bang hội thương nhân Quảng Đông, Phúc Kiến), chữ Nghĩa gắn liền với chữ Tín.  Với người Hoa và các thương nhân trọng đạo, chữ Nghĩa là “chứng chỉ tín dụng” cao nhất. Làm ăn không chỉ là con số, mà là sự sòng phẳng và cùng nhau gánh vác rủi ro. Thấy lợi mà quên nghĩa (Kiến lợi vong nghĩa) là tự gạch tên mình khỏi thương trường bền vững.
  • Với Quốc gia & Cộng đồng: Đó là lòng Trung nghĩa  (忠義)

Chữ Nghĩa thể hiện ở trách nhiệm với vận mệnh dân tộc.

  • Trong Gia đình:Hiếu nghĩa (với cha mẹ), Tình nghĩa (với anh em) và Ân nghĩa (với vợ chồng). Khi tình cảm nồng cháy qua đi, chính chữ “Nghĩa” giữ cho gia đình bền vững, là sự cam kết đi cùng nhau qua gian khó. Vậy người ta mới nói hết tình còn nghĩa.
Vụ người phụ nữ cứu chồng tại Campuchia
Vụ người phụ nữ cứu chồng tại Campuchia

Chả vậy mà sự kiện người phụ nữ Hải Dương sang tận Campuchia giải cứu chồng bị bắt cóc đã tạo nên một cơn sốt thực sự trên mạng xã hội Trung Quốc (Weibo, Douyin). Tại sao một câu chuyện đời thực tại Việt Nam lại khiến dân mạng xứ Trung “phát cuồng” và tôn vinh cô như một hình mẫu lý tưởng chỉ có trong tiểu thuyết cổ trang? Trong khi tại VN dân mạng vẫn chưa hiểu tại sao. Để giải thích điều này, Câu trả lời nằm chính ở chữ Nghĩa () mà chúng ta đang bàn luận. Theo tôi vì người Hoa họ lấy chữ Nghĩa là khuôn mẫu sống. Và như vậy đấy với người Hoa cô ấy đã trọn với chữ Nghĩa trong vợ chồng. Nên cô ấy được người Hoa rất kính ngưỡng và hâm mộ. Tất nhiên tôi không cổ súy cái việc vi phạm pháp luật của cô ấy. Và người Hoa họ cũng có hỏi cô ấy là người Việt chứ có đem lại lợi ích gì cho Trung Quốc đâu. Điều đó để thấy việc tôn thờ đó là người ta thờ cái biểu tượng và biểu tượng có thể không phân biệt quốc gia hay tôn giáo. Vì vậy, nếu người Việt nào thờ Quan công cũng là thờ biểu tượng của trung nghĩa, tín dũng. Cũng như tại Văn miếu người ta tôn vinh đạo học và chữ Trí () thông qua hình tượng Khổng Tử và các bậc hiền triết.

Việt Nam giữa một xã hội Tây phương hóa chữ Nghĩa () có thể tồn tại?

Xã hội Việt Nam sau thời kỳ Pháp thuộc trải qua nhiều thời kỳ “đứt gãy văn hóa” rồi sau đó là việc toàn cầu hóa mạnh mẽ khiến xã hội VN có nhiều thay đổi. Sẽ viết tiếp…